Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

Chuyên gia Đại học Yale: ‘Dân Thủ Thiêm bị đối xử như không tồn tại’

Chuyên gia Đại học Yale: ‘Dân Thủ Thiêm bị đối xử như không tồn tại’


Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 1

"Phát triển là dành cho người dân, không phải cho dự án. Tuy vậy tại Thủ Thiêm, dự án đã trở nên quan trọng hơn người dân", PGS.TS. Erik Harms, Đại học Yale (Mỹ), viết cho Zing.vn.

Trong suốt tuần qua, Thủ Thiêm đã trở thành từ khóa nóng và đang tràn ngập các trang báo Việt Nam. Tuy nhiên, với những hộ dân thuộc diện di dời để nhường chỗ cho các dự án Khu Đô thị mới Thủ Thiêm, vấn đề này đã thực sự “nóng” từ lâu.
Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 2
Phó giáo sư, tiến sĩ Erik Harms đang công tác tại ngành Nhân học Văn hóa xã hội (Socio-Cultural Anthropology) thuộc Đại học Yale, Mỹ. Ông thường xuyên đến Việt Nam để nghiên cứu từ năm 1997. Cuốn sách mới đây của ông Luxury và Rubble (Xa hoa và đổ nát), tập trung về sự phát triển của các khu đô thị mới ở TP.HCM.
Vào thời điểm đó, chính quyền tuyên bố rằng khu vực giải phóng mặt bằng tại Thủ Thiêm là nơi sinh sống của 14.600 hộ dân. Tất cả những người sống trong các hộ gia đình này đều bị buộc di dời để nhường chỗ cho dự án.
Suốt tuần qua, trong khi mọi người đang bàn tán về tấm bản đồ bị mất, câu chuyện thực sự nằm ở việc những cư dân bị mất nhà cửa. Đó là cuộc sống của những người đã hy sinh cho thành phố và đất nước.
Khi được mời đưa ra nhận định chuyên môn về Thủ Thiêm, tôi chỉ có một lời khuyên thế này: Đừng mất thời gian nghe tôi, hay tất cả các “chuyên gia” khác. Thay vào đó, hãy dừng lại và lắng nghe tiếng nói của những người dân tại các phường An Khánh, Thủ Thiêm và An Lợi Đông, TP.HCM.
Hãy lắng nghe những người sống ở các khu dân cư xung quanh các con đường nhộn nhịp như Lương Định Của, Cây Bàng và Trần Não. Họ thân thuộc với từng con kênh, con rạch chạy qua Thủ Thiêm tương tự như người dân thành thị am hiểu về phố xá Sài Gòn.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 3

Giữa Khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2, TP.HCM), nơi có những đại dự án nghìn tỷ của các đại gia bất động sản đã và đang xây dựng, nhiều khu nhà cũ nát, tạm bợ, ngập nước, sinh hoạt thiếu thốn vẫn tồn tại. Ảnh: Lê Quân.

Họ đã mất cả cộng đồng




Tôi đã nhận được rất nhiều email và tin nhắn từ bạn bè, chỉ ra chuyện này sẽ khiến các nhà chức trách quy hoạch đô thị trở nên buồn cười như thế nào. Mọi người hỏi tôi đây có phải là một trò đùa không và những email, tin nhắn của họ chứa đầy các dấu chấm than và chấm hỏi hàm ý sự giễu cợt.
Những người dân Thủ Thiêm đã bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại.
TS. Erik Harms
Bản thân tôi không thể cười, dù đồng ý rằng câu chuyện này đang khiến mọi người hoài nghi về năng lực và ý định ban đầu của các nhà lãnh đạo dự án.
Tôi không thể cười vì trong quá trình thực hiện cuốn sách về sự phát triển của các khu đô thị mới tại Việt Nam, tôi có thể hình dung được những gì hàng nghìn người dân Thủ Thiêm phải trải qua. Với những người dân Thủ Thiêm, dự án này không phải là trò cười. Họ đã mất kế sinh nhai. Họ đã mất làng xóm, tình bạn. Họ đã mất cả một cộng đồng.
Nếu ai đó sẵn sàng lắng nghe người dân Thủ Thiêm - và ý tôi là thật sự lắng nghe chứ không chỉ gặp mặt đơn thuần - họ sẽ hiểu rằng có rất nhiều người đang hồ hởi vì được là một phần trong dự án phát triển đô thị mới nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng của thành phố.
Rất nhiều bạn bè tôi ở Thủ Thiêm nói rằng họ sẵn sàng hy sinh. Họ sẵn sàng làm vậy vì họ yêu Việt Nam và yêu TP.HCM như mọi người dân khác. Nhưng những ai chấp nhận hy sinh cũng xứng đáng nhận được sự tôn trọng.
Thế nhưng thực tế lại ngược lại. Những người dân Thủ Thiêm đã bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại.
Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 4

Căn nhà lụp xụp trên phố Trần Não là chỗ trú của 16 người suốt 8 năm qua. Ảnh: Phúc Minh

Theo báo chí mấy ngày qua, số lượng các hộ gia đình trong diện giải tỏa từ Thủ Thiêm cao hơn cả con số tôi từng nghe được trong quá trình thực hiện cuốn sách. Bây giờ con số này đã là trên 15.000 hộ gia đình.
Trong các tài liệu này, các hộ gia đình trong diện giải tỏa không được nhận dạng là con người mà thay vào đó là “hồ sơ”, như thể giấy tờ còn quan trọng hơn nhân phẩm của họ.
TS. Erik Harms
Hiểu rõ điều này, James Scott, đồng nghiệp của tôi tại Yale, đã chỉ ra một vấn đề cố hữu: Các nhà chức trách bỏ qua thực tế đang diễn ra trước mắt khi tiến hành dự án, do đã quen nhìn nhận qua văn bản và bản đồ (khi bản đồ chưa bị mất).
Có thể thấy điều này trong các tài liệu quy hoạch của Khu Đô thị mới Thủ Thiêm. Trong các tài liệu này, các hộ gia đình trong diện giải tỏa không được nhận dạng là con người mà thay vào đó là “hồ sơ”, như thể giấy tờ còn quan trọng hơn nhân phẩm của họ.
Điều này được minh chứng rõ trong các bản đồ quy hoạch, thường xuyên được các hình ảnh mô tả như những vùng đất trống không có dân cư. Mọi thứ được thể hiện qua góc nhìn từ trên xuống, và không hề tính đến thực tế cuộc sống con người ở nơi mà các nhà quy hoạch tuyên bố đang được cải thiện.

“Đi xe xem đất”




Điều tôi đang mô tả, dĩ nhiên, không có gì bất ngờ với những người bạn của tôi ở Việt Nam. Họ gọi hình thức quản lý này là “cưỡi ngựa xem hoa”. Hình thức này cũng phổ biến tại Trung Quốc.
Tôi sẽ để cho độc giả tự quyết định tại sao các hộ dân trong khu vực giải tỏa của các dự án phát triển đô thị mới lại dùng câu thành ngữ này để mô tả các nhà quy hoạch dự án Thủ Thiêm.
Có thể chúng ta nên áp dụng một thành ngữ mới trong thời kỳ hiện đại: “Đi xe xem đất”. Dù trong trường hợp nào, tôi chỉ có duy nhất một khuyến nghị: Các nhà quy hoạch đô thị tốt cần phải xuống ngựa hoặc xuống xe để nói chuyện với người dân.
Các dự án phát triển đô thị quy mô lớn được điều hành bởi những nhà quy hoạch “tháp ngà” và không lắng nghe người dân thường không đạt được kết quả như mong muốn. Các chuyên gia đã mô tả không ít các dự án lớn trên thế giới phải nhận sự thất bại do không tính đến yếu tố con người mà đáng ra mục đích của dự án phải là nâng cao đời sống người dân. Chandigarh (Ấn Độ) và Brazilia (Brazil) và nhiều dự án nhà ở xã hội tại Mỹ là các ví dụ điển hình.
Với các dự án được các chuyên gia coi là thành công như dự án nhà ở xã hội của Cơ quan phát triển nhà ở Singapore (HDB), các nhà quy hoạch đã đặt tâm nguyện của người dân lên trên. Trong khi nhiều nhà quy hoạch Việt Nam lấy Singapore làm hình mẫu, họ thường bỏ qua một yếu tố quan trọng trong mô hình HDB.
Theo chuyên gia đô thị Chua Beng Huat, mô hình HDB là một phần quan trọng của mạng lưới an toàn xã hội cho người dân và đồng thời là một hình thức quy hoạch đất đai cân đối giữa người giàu và nghèo để đảm bảo tất cả công dân đều có nhà để ở.
Tại Singapore, mô hình HDB là cách để chính phủ dân chủ hóa nhà ở. Mô hình này giảm thiểu sự bất bình đẳng xã hội, vốn thường đi kèm với bùng nổ đất đai. Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia khác, mô hình nhà ở xã hội này lại được biến tướng thành cơ hội phát triển bất động sản.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 5

Những căn nhà loang lỗ ở Thủ Thiêm hiện tại. Ảnh: Lê Quân.


Hãy nghe dân Thủ Thiêm nói





Bài học chính mà tất cả các chuyên gia đô thị muốn truyền tải là việc lắng nghe người dân phải được coi là cốt lõi trong quá trình phát triển bất cứ hình thức nhà ở nào. Phát triển là dành cho người dân, không phải cho dự án. Tuy vậy tại Thủ Thiêm, dự án đã trở nên quan trọng hơn người dân. Vì thế, nhiều công dân Việt Nam đã dùng từ “bị quy hoạch” thay vì “được quy hoạch” khi nói về các dự án đô thị.
Tại Thủ Thiêm, dự án đã trở nên quan trọng hơn người dân. Vì thế, nhiều công dân Việt Nam đã dùng từ “bị quy hoạch” thay vì “được quy hoạch” khi nói về các dự án đô thị.
TS Erik Harms
Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi người dân Thủ Thiêm bị biến thành vô hình.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy những người dân ở đó dường như không tồn tại trong phần lớn lịch sử Sài Gòn.
Trong lần đầu đặt chân đến Sài Gòn năm 1997, tôi ghé thăm bến Bạch Đằng và hỏi người dân bên kia sông là gì, họ trả lời: “Không gì cả”. Thủ Thiêm dường như không tồn tại trong các bản đồ của các chính quyền ở Việt Nam. Thế nhưng nếu thật sự tìm hiểu thì có thể nhận thấy những người dân Thủ Thiêm đã ở đây từ rất lâu rồi.
Các nghiên cứu của sử gia Nguyễn Đình Đầu đã chỉ ra sự tồn tại của người dân nơi đây trong lịch sử. Cuộc sống nhộn nhịp ở cả hai bên bờ sông Sài Gòn đã được mô tả trong nhật ký của các nhà thám hiểm đến Sài Gòn lẫn trong văn chương của Trịnh Hoài Đức hay Trương Vĩnh Ký.
Khi bắt đầu học tiếng Việt và đọc về lịch sử Nam Bộ, tôi đã học được câu nói: “Nơi nào có đình thì nơi đó có làng Việt Nam”. Sau đó, khi tìm hiểu về Thủ Thiêm, tôi được biết ở đó không chỉ có hai đình (An Khánh và An Lợi Đông) mà còn có rất nhiều chùa, đền, và nhà thờ. Tổng cộng, có 29 công trình tôn giáo phục vụ cho nhu cầu tâm linh của người dân.
Với tôi, đây hoàn toàn không phải là một khu đất trống. Đó là một khu dân cư chứa đựng đầy đủ những tinh hoa văn hóa Việt Nam. Để có thể biết về cuộc sống của họ, chúng ta phải bước chân xuống ngựa hoặc mở cánh cửa ôtô để nói chuyện với người dân.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 6

Nhiều xóm trọ tạm bợ, lụp xụp mọc lên gần khu đô thị Thủ Thiêm. Ảnh: Lê Quân


Thế nhưng, vì một lý do nào đó, các nhà quy hoạch đã coi mảnh đất này là trống bất chấp rất nhiều bằng chứng về sinh hoạt dân cư. Họ vẫn phớt lờ tiếng nói của người dân kể cả trong quá trình xử lý “hồ sơ”. Trong quyển sách của tôi về các khu đô thị mới, tôi gọi hiện tượng này là “nhìn mà không thấy”. Đây chính xác là những gì đang xảy ra khi các nhà quy hoạch chỉ nhìn chằm chằm vào mảnh đất và mơ về những dự án lớn trong tương lai.
Mọi chuyện không cần thiết phải diễn ra như vậy. Kể cả những nhà lãnh đạo cũng có khả năng bước ra khỏi ôtô và nói chuyện với người dân.
Trong khi đang theo dõi tin tức về vụ mất bản đồ, tôi rất vui khi được biết về một cựu lãnh đạo hiểu được tầm quan trọng của việc lắng nghe dân. Ông Võ Viết Thanh, cựu Chủ tịch UBND TP.HCM, đã thể hiện cách nhìn nhận riêng của mình với những vấn đề liên quan đến dự án Thủ Thiêm, một dự án mà chính ông đã tham gia trong giai đoạn đầu.
Ông cho biết bài học của mình không đến từ chuyên gia nước ngoài nào mà đến từ một người dân sinh sống tại đường Lương Định Của, con đường nằm giữa trung tâm của khu vực giải tỏa. “Gia đình tôi sắp bị giải tỏa và chúng tôi vẫn chưa biết phải dọn đi đâu nữa,” dược sĩ này buồn bã cho biết khi ông Thanh dừng lại để mua thuốc.
Khi tôi đọc lời chia sẻ của ông Thanh, tôi nhận ra những hành động nhỏ bé như nói chuyện với người dân chính là yếu tố cốt lõi đang bị bỏ sót trong toàn bộ kế hoạch. Những dẫn chứng từ các chuyên gia đã củng cố thêm cho phát hiện của ông Thanh vào ngày đó khi nói chuyện với một người dân Thủ Thiêm.
Trên tinh thần này, tôi sẽ bảo lưu quan điểm: Đừng nghe tôi, hãy lắng nghe người dân Thủ Thiêm.
https://news.zing.vn/chuyen-gia-tu-dh-yale-dan-thu-thiem-bi-doi-xu-nhu-khong-ton-tai-post841053.html

Erik Harms
(Ngọc Linh dịch)

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Tòa Thượng thẩm Berlin bắt đầu xét xử nghi phạm mật vụ Việt Nam Nguyễn Hải Long

Tin Nước Đức

Đài truyền hình Đức RBB phát bản tin Tòa Thượng thẩm Berlin bắt đầu xét xử nghi phạm mật vụ Việt Nam Nguyễn Hải Long

 24.04.2018 14:24  2453
Đài này cũng cho rằng, việc đưa nghi phạm mật vụ Việt Nam ra xét xử sẽ tác động rất mạnh đến quan hệ ngoại giao hai nước CHLB Đức – Việt Nam trong thời gian tới.
Đài truyền hình Đức RBB phát bản tin Tòa Thượng thẩm Berlin bắt đầu xét xử nghi phạm mật vụ Việt Nam Nguyễn Hải Long
Nghi phạm mật vụ Việt Nam Nguyễn Hải Long tại phiên tòa xét xử hôm 24.4.2018 ( Ảnh: Đài truyền hình RBB) Ghi chú: Luật lệ Đức bắt buộc phải làm mờ khuôn mặt đi.
Sau khi nghe Công tố viên Liên bang đọc Bản cáo trạng trước toà, bị cáo Nguyễn Hải Long đã im lặng, không phát biểu gì.
Luật sư Stephan Bonell nói, thân chủ của ông sau này sẽ có ý kiến.
Luật sư của ông Nguyen Hải Long tại phiên toàn hôm 24.4.2018 và nghi phạm Nguyễn Hải Long ngồi phía sau luật sư, trong phòng riêng với kính chống đạn ( Ảnh: Đài truyền hình RBB) 
Luật sư Stephan Bonell trả lời phóng viên báo chí ông bác bỏ tất cả cáo buộc và đòi hỏi thân chủ của ông phải được trắng án.
Nghi phạm mật vụ Việt Nam Nguyễn Hải Long ngồi trong phòng riêng tại phiên tòa  ( Ảnh: Đài truyền hình RBB) 
Các phóng viên chụp ảnh nghi phạm trước khi phiên xét xử bắt đầu. ( Ảnh: Đài truyền hình RBB) 
Bà Luật sư Petra Schlagenhauf đại diện cho Trịnh Xuân Thanh tại phiên tòa với tư cách người bị hại ( Ảnh: Đài truyền hình RBB)
Bà Luật sư Petra Schlagenhauf đại diện cho Trịnh Xuân Thanh trả lời báo chí sau phiên tòa 
Công tố viên Liên bang Đức trả lời báo chí ngay sau phiên tòa
Thông tin bị cáo Nguyễn Hải Long cùng các chi tiết hồ sơ xét xử được công bố trước phiên tòa.
Video Clip của  Hãng thông tấn Reuters Anh quốc.Báo Bild của Đức đưa tin : https://www.bild.de/video/clip/prozess/prozessauftakt-gegen-mutmasslichen-spion-aus-vietnam-agvideo-55496214.bild.html 
Thoibao.de sẽ có bài tường thuật chi tiết về phiên toà khai mạc hôm nay..
http://thoibao.de/tin-nuoc-duc/11844/dai-truyen-hinh-duc-rbb-phat-ban-tin-toa-thuong-tham-berlin-bat-dau-xet-xu-nghi-pham-mat-vu-viet-nam-nguyen-hai-long.htm

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

Ba lần đổi tiền ở Việt Nam sau năm 1975 : Ăn cướp có Licence

 Ba lần đổi tiền ở Việt Nam sau năm 1975 : Ăn cướp có Licence
















- Sau ngày 30/4/1975, tiến trình bình định và vô sản hóa miền nam Việt Nam được bộ chính trị đảng cộng sản với 17 đảng viên Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Lê Văn Lương (Nguyễn Công Miểu), Nguyễn Văn Linh (Nguyễn văn Cúc), Võ Chí Công (Võ Toàn), Chu Huy Mân (Chu Văn Điều), Tố Hữu tự Lành (Nguyễn Kim Thành), Võ văn Kiệt (Phan Văn Hòa) và Đỗ Mười (Nguyễn Duy Cống) quyết định, nhằm tiêu diệt mọi giai cấp cũ trong xã hội VNCH, phá vỡ, kiểm soát, chiếm đoạt mọi cơ cấu kinh tế trọng yếu trên toàn miền và nỗ lực bần cùng hóa người dân miền nam trong âm mưu phải cào bằng hố cách biệt quá lớn trong sinh hoạt đời sống của người dân hai miền nam – bắc, dưới hai chế độ tự do – cộng sản, hòng khỏa lấp sự tuyên truyền dối trá từng liên tục diễn ra suốt hàng mấy thập niên qua tại miền bắc.

Tựu trung có bốn biện pháp chính nhắm đến hai mục tiêu tiên quyết, gồm trả thù nhân dân miền nam bằng chính sách tập trung học tập cải tạo và đi xây dựng vùng kinh tế mới, song hành với chủ trương chiếm đoạt, cướp bóc triệt để mọi tài sản, bất động sản, các cơ sở kinh tế của người dân và của chính phủ VNCH thông qua chính sách cải tạo công thương nghiệp (đánh tư sản) và đổi tiền được Hà Nội cho áp dụng dai dẳng từ 1975 đến đầu thập niên 90. 

Tất cả đều được thực hiện dưới chiêu bài xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ giai cấp tư sản bóc lột, ngồi mát ăn bát vàng, tập thể hóa sản xuất và tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên cả nước, bằng các lực lượng chiếm đóng là công an và quân đội miền bắc và bởi bạo lực cách mạng, tức là một mỹ danh mỹ miều, trơ trẽn, che đậy cho sự thật trần trụi đó chỉ là bốn cú đánh có tính tiêu diệt tàn bạo, nặng nề nhất, được đảng cộng sản xử dụng để đánh phủ đầu người miền nam, triệt tiêu mọi cơ cấu trong xã hội miền nam khi chiến tranh mới vừa chấm dứt và hầu như không có gia đình nào ở miền nam tránh khỏi. 

Trong khi những chuyến tàu thủy kinh hoàng đưa hàng chục ngàn người tù quân, cán, chính VNCH, lưu đày khổ sai ra vùng rừng núi thâm sơn cùng cốc ngoài miền bắc, những chuyến xe đò chạy than xộc xệch đày đọa hàng trăm ngàn, hàng triệu thân nhân người tù đi về mọi miền hoang vu, để "có sức người sỏi đá cũng thành cơm", thì nương theo thế cướp đoạt công khai đầy thắng lợi theo kiểu lẽ phải thuộc về phía kẻ mạnh - đang ở đỉnh cao của cơn bão táp, người người, nhà nhà, cán bộ, đảng viên, cơ quan, dân sự, quân sự, từ nhỏ đến lớn, trung ương hay địa phương, từ miền bắc vào, từ trong rừng ra, từ ngang nhiên chiếm hữu, cướp đoạt, đến xin giúp đỡ, thu lượm, nhặt nhạnh…. thi nhau vơ vét, xâu xé, xẻ thịt con mồi miền nam. Liên tục và ồ ạt là những đoàn xe vận tải dân, quân sự chạy nối đuôi nhau hàng ngày trên quốc lộ 1, cũng như không ngớt các chuyến xe lửa nặng nề, chở đủ thứ chiến lợi phẩm, do đủ thứ lực lượng, cơ quan nhà nước, của đủ mọi loại đảng viên, cán bộ, bộ đội cướp đoạt, hay xin xỏ được từ miền nam, cứ đều đặn ngược ra các tỉnh miền bắc. 

Chỉ tính riêng về mặt tài chánh – ngân hàng, số tài sản lưu động gồm tiền mặt nội tệ VNĐ, ngoại tệ USD và quý kim các loại của chính phủ VNCH để lại hoàn toàn nguyên vẹn, trở thành chiến lợi phẩm bị Hà Nội tịch thu, có văn bản kiểm kê chính thức (không tính phần đã bị những đoàn thể, nhiều cá nhân tẩu tán, chiếm đoạt mờ ám lúc giao thời) cũng đã rất lớn. 

Vàng lưu trữ tại ngân hàng quốc gia có 1.234 thoi vàng nguyên chất, nặng 12 – 14kg mỗi thoi, có tuổi vàng 9997 – 9998, nặng tổng cộng 15,7 tấn (chưa tính các loại đồng tiền cổ bằng vàng nguyên chất, được nhiều quốc gia khác nhau đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19, như đồng tiền vàng 20USD Double Eagle của Hoà Kỳ nặng 33,4 gam vàng, tiền vàng Pesos của Mexico, hoặc đồng vàng Napoleon của Pháp… mà ngoài giá trị nguyên thủy của vàng, khi tính theo giá trị tiền cổ còn cao rất nhiều lần so giá trị vàng nội tại của nó). Số vàng này cộng sản vu cáo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chiếm dụng, chuyển ra ngoại quốc để làm của riêng suốt từ 1975 đến 2006, trong khi trên thực tế đã bị Hà Nội chuyển qua Lienxo, cùng với số vàng nữ trang, vàng lá các loại của tư nhân miền nam bị Hà Nội chiếm đoạt vào các đợt đánh tư sản, vàng nộp lệ phí cho cộng sản để được vượt biên bán chính thức theo "phương án 2" trong hai năm 1978 - 1979, tổng cộng lên tới 40 tấn, bị đúc lại từng thoi nặng 1kg theo tiêu chuẩn Nga, để bán ra trên thị trường vàng Âu châu và Lienxo trong giữa thập niên 80. 

Vàng của VNCH ký gởi tại ngân hàng Bank fur Internationnalen Zahlung Sausgleih – Thụy Sĩ có 5,7 tấn, cũng bị Hà Nội tìm cách thu hồi thông qua cái gọi là chính phủ cách mạng lâm thời miền nam, sở hữu chủ kế thừa hợp pháp VNCH, để đem ra bán trên thị trường Tiệp Khắc vào cuối thập niên 80. 

Số ngoại tệ dự trữ của VNCH ký gởi tại các ngân hàng Hoa Kỳ và Thụy Sĩ có 252,2 triệu USD và số nội tệ trong toàn bộ các kho, quỹ của hệ thống ngân hàng VNCH có 150 tỷ VNĐ. 

Tính tới tháng 6/1974, tổng số tiền VNĐ do ngân hàng quốc gia Việt Nam phát hành là 313,5 tỷ đồng, đưa ra lưu hành trên thị trường tiền tệ 229,8 tỷ đồng và dự trữ 83,7 tỷ đồng. Qua tháng 5/1975 tổng số tiền VNĐ đã phát hành tăng lên 615 tỷ đồng và lưu hành trên thị trường khoảng 440 tỷ đồng. 

Trước số hiện kim VNCH lưu hành quá lớn, vẫn còn giá trị mạnh khi thanh toán, giao dịch trên thị trường tiền tệ miền nam và nhất là sau khi đã phân phối, chi xài hết số nội tệ tồn trữ của ngân hàng quốc gia VNCH, như chi cho quân đội miền bắc hơn 100 tỷ, chi mua lúa ở đồng bằng sông Cửu Long chở ra miền bắc 20 tỷ và chi cho quân khu 5, quân khu Trị - Thiên 15 tỷ, Hà Nội mới tiến hành đổi tiền lần thứ nhất trên toàn cỏi miền nam Việt Nam ngày 22/9/1975. 

Mục đích của việc đổi tiền là củng cố thế chính danh cho chính phủ cách mạng lâm thời – chế độ nào, đồng nội tệ đó – cho phù hợp với các thỏa thuận kế thừa vai trò hội viên của VNCH tại các định chế tài chánh quốc tế như ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng phát triển Á Châu (ADB) và nhất là để kiểm soát, tước đoạt số hiện kim của cải trong xã hội, bần cùng và cào bằng mức sở hữu tài chánh của tất cả mọi người dân miền nam xuống mức thấp nhất và ngang nhau, trong khi mức sở hữu tài chánh của dân miền bắc vẫn được giữ nguyên vị, thể hiện rõ bản chất một vụ cướp tiền của mọi công dân VNCH vừa kinh hoàng, vừa đại quy mô và bằng luật do đảng cộng sản và nhà nước cộng sản Việt Nam ban hành. 

Thời gian đổi tiền được quy định từ 11 giờ trưa đến 23 giờ tối ngày 22/9, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ, cho 70.000 nhân viên vừa quân đội, công an, nhân viên ngân hàng và sinh viên học sinh làm nhiệm vụ thu và đổi tiền trên toàn miền nam Việt Nam, có liên quan sinh tử đến cuộc sống của hơn 21 triệu người dân. 

Đồng tiền VNCH thuộc loại tiền tệ có giá trị trao đổi trên thị trường tiền tệ quốc tế (conversibility currency), từ loại có trị giá từ 50 đồng trở lên đều bị cấm lưu hành, phải hủy bỏ, đổi qua đồng bạc cách mạng lâm thời, hay còn được gọi là "tiền giải phóng" gồm 8 trị giá từ 10 xu đến lớn nhất là 50 đồng và là loại không thể chuyển đổi trên thị trường tiền tệ thế giới (non transferable currency). 

Tỷ giá giao hoán ấn định giữa ba loại tiền đồng đang lưu hành trước ngày 22/9/1975, gồm tiền VNCH, tiền miền bắc và tiền cách mạng, chỉ là đơn thuần là một quyết định duy ý chí, không dựa vào bất cứ một tiêu chuẩn gì về tiền tệ, hay một nghiên cứu tài chánh nào khác và cũng bị thay đổi tùy theo vùng, miền địa lý. 

Theo đó, trên các tỉnh từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào, 500 đồng VNCH đổi bằng 1 đồng tiền mới. Mỗi gia đình, căn cứ theo tờ khai gia đình phải kê khai và giao nộp hết số hiện kim VNCH đang có và được phép đổi 100.000 đồng trong hạn định theo tỷ giá giao hoán, tức bằng 200 đồng tiền mới để sở hữu ngay. Phía bắc đèo Hải Vân, tức từ Thừa Thiên – Huế trở ra các tỉnh miền bắc, việc đổi tiền cũng theo trình tự như trên nhưng tỷ giá giao hoán thay đổi, cứ 1.000 đồng VNCH đổi được 3 đồng mới, do đó mỗi gia đình trong vùng sẽ được sở hữu ngay tối đa là 300 đồng tiền mới. 

Đối với các gia đình kinh doanh, sản xuất quy mô trung bình và lớn, được đổi thêm 100.000 đến 500.000 đồng tiền VNCH và phù hợp với tỷ giá giao hoán. 

Phần tiền VNCH kê khai còn lại sau khi đổi ngay lần đầu tiên, đối với từng gia đình được đổi thêm 100.000 đồng, đối với cơ sở sản xuất được đổi thêm một triệu, cũng quy ra tiền mới theo tỷ giá giao hoán, nhưng phải bỏ vào trương mục ngân hàng cho nhà nước quản lý (?). Các phần dư ra sau các hạn định này đều bị hủy bỏ. 

Tỷ giá giao hoán giữa đồng tiền miền bắc và đồng tiền mới của miền nam, quy định 1 đồng miền bắc bằng 0,66 đồng tiền mới, trong khi tỷ giá hối đoái cũng thay đổi, 1USD bằng 1,51 đồng tiền mới, hay bằng 2,90 đồng tiền miền bắc. 

Do đó sau đổi tiền, mỗi gia đình người dân miền nam Việt Nam chỉ còn cầm được trong tay 200 tới 300 đồng tiền mới, bằng 303 đến 454,5 đồng miền bắc và trên lý thuyết coi như cũng tương đương với 132,5 đến 198,5USD. Trên thực tế, vì đồng tiền mới là loại bất khả chuyển nhượng trên thị trường tiền tệ quốc tế, tỷ giá hối đoái cũng do Hà Nội tự áp đặt, nên quy đổi theo tỷ giá VNCH hiện hành thì người dân chỉ còn sở hữu tương đương khoảng gần bằng 100USD. 

Số tiền ký thác vào trương mục ngân hàng cũng bị đóng, tới đầu năm 1976 cộng sản Hà Nội mới để cho người dân miền nam rút nhỏ giọt 30 đồng mỗi tháng, nhưng chỉ đến cuối năm thì khóa luôn vĩnh viễn, coi như tài sản ký gởi của người dân hoàn toàn mất trắng. 

Hậu quả trước mắt là mọi đồng tiền làm ăn giành dụm, chắt chiu suốt cuộc đời người dân miền nam đều bị đảng cộng sản Việt Nam trắng trợn cướp bóc gần như sạch sẽ, tài sản bị đánh đồng hạng và ở dưới đáy so với cộng đồng dân chúng miền bắc. Rất nhiều người vì quá uất ức phải tìm đến phản ứng tiêu cực là tự vẫn, trong khi nhiều tay cán bộ cùng đinh cộng sản lại giàu lên bất ngờ, do nhận "đổi giúp" tiền, theo tỷ lệ ăn chia 6 – 4, thậm chí là 8 – 2, vẫn được người dân miền nam cay đắng chấp nhận, còn hơn là bị nhà nước cộng sản cướp. Rất nhiều dân nghèo miền nam, cảm tình viên cộng sản vở mộng, do không có tiền đổi thì cũng chẳng được đảng cấp khống cho 200 hay 300 đồng như mọi người có tiền để đổi và như đảng đã luôn phủ dụ trước đó sẽ san bằng giàu nghèo trong xã hội (?), trong khi các gia đình miền bắc có lợi thế vẫn giữ nguyên tích sản hiện kim, nên đã ồ ạt đổ xô vào miền nam mua lại mọi thứ tài sản, nhà cửa với giá rẻ như cho vì người dân VNCH đã bị bần cùng và không còn đường khác để lựa chọn. 

Tổng số tiền VNCH lưu hành trên thị trường bị Hà Nội thu gom trong cuộc đổi tiền lần thứ nhất, ngày 22/9/2975, là 486 tỷ đồng, trong đó 77% là cướp đoạt từ người dân miền nam. 

Cuộc đổi tiền lần thứ hai diễn ra ngày 3/5/1978 và có phạm vi trên toàn quốc, nhằm... Xóa bỏ tư sản mại bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản dân tộc, thí điểm xây dựng các hợp tác xã và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp cỡ nhỏ... (Nghị quyết hội nghị 24 trung ương đảng, khóa III, 09/1975) và đổi tiền là một vũ khí quan trọng của mọi nhà nước cộng sản trong tiến trình đó. Hà Nội cho đổi tiền để vừa chỉ còn lưu hành một đồng tiền chung, vừa để ngăn cản khả năng yểm trợ vật chất cần thiết cho mọi ý thức kháng cự, vô hiệu hóa cơ hội tự phát nẩy sinh ra các hoạt động kinh doanh, sản xuất, các thị trường kinh tế ngầm ngoài tầm kiểm soát và tạo thêm điều kiện thuận lợi cho chủ trương tiếp tục tịch thu tài sản, của cải trong dân, đẩy mạnh cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại miền nam, tức đẩy nhanh hơn tốc độ bần cùng, vô sản hóa miền nam. 

Ngày 1/4/1978, ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam thông qua nghị quyết số 08/NQ/TW cho nhà nước CHXHCNVN cụ thể hóa ra hai sắc lệnh số 87-CP và 88-CP do Phạm Hùng ký ban hành ngày 25/4/1978, quyết định về việc thống nhất tiền tệ trên cả nước và hạn định tiền mặt được quy đổi, nhưng giữ kín đến ngày 3/5/1978 mới công bố và chính thức áp dụng. Theo đó, hai loại tiền tệ đang lưu hành song hành tại Việt Nam, đều bị cấm xử dụng, những ai sở hữu tiền cũ thì phải đem đổi lấy tiền mới. 

Tỷ giá giao hoán giữa hai loại tiền cũ với đồng tiền mới cũng thay đổi theo miền địa lý. Từ bắc vỹ tuyến 17 trở ra, 1 đồng tiền mới bằng 1 đồng tiền cũ. Từ nam vỹ tuyến 17 trở vào, 1 đồng tiền mới bằng 0,8 đồng tiền cũ. 

Hạn ngạch được phép đổi tiền cũ lấy tiền mới, cũng quy định thay đổi theo vùng cư trú. 

Dân thành thị mỗi người được đổi tối đa 100 đồng tiền mới, một gia đình hai người đổi tối đa 200 và từ người thứ ba trở đi được đổi thêm 50 mỗi người, nhưng tổng số đổi không vượt quá 500 đồng tiền mới cho một gia đình. 

Dân vùng nông thôn mỗi người được đổi tối đa 50 đồng tiền mới, một gia đình hai người được đổi tối đa 100, từ người thứ ba trở đi được đổi thêm 30 mỗi người, nhưng tổng số quy đổi tối đa không được vượt hơn 300 đồng tiền mới cho một gia đình. 

Số tiền cũ còn lại phải khai báo, quy đổi theo tỷ giá mới và giao nộp vào ngân hàng. Khi cần thì người dân chủ sở hữu có thể xin rút ra, nếu… có lý do chính đáng (?) và chứng minh được nguồn gốc số tiền là do bản thân "lao động chân chính" không phải do "bóc lột qua sức lao động của người khác"(?). 

Cũng như lần đổi tiền đầu tiên, mọi hậu quả trong đợt đổi tiền lần thứ hai chỉ duy nhất giáng xuống đầu mọi gia đình dân chúng tại miền nam lãnh đủ. Đồng tiền mới đổi năm 1975 bị phá giá trong khi đồng tiền miền bắc vẫn giữ nguyên giá trị cũ và tuy theo quan điểm lý thuyết của chế độ, mục tiêu của cuộc đổi tiền lần này là nhằm đến việc tiêu diệt giới tư sản miền nam, nhưng trên thực tế mọi tầng lớp trong xã hội miền nam đều phải gánh chịu chung những ảnh hưởng rất tai hại và nặng nề. 

Đối với giới tư sản và các thành phần trung lưu trong xã hội miền nam, sau nhiều đợt chính quyền cộng sản tước đoạt, tịch thu, trưng thu, trưng mua tượng trưng, hay cưỡng bách... phải tự nguyện hiến tặng cho nhà nước nhà cửa, mọi tài sản, tích sản đã và đang đầu tư, tích lũy trong hệ thống công, thương nghiệp tư doanh hiện hành diễn ra trong suốt hai năm 1976 - 1977, nay lại tiếp tục bị chiếm đoạt đồng tiền một cách trắng trợn và bất nhân, thông qua chủ trương bắt buộc phải ký thác ngân hàng số tiền vượt hạn ngạch quy đổi cho mỗi gia đình, cho nhà nước quản lý (?), mà sau đó hầu như đều không thể lấy lại vì có quá nhiều đòi hỏi ràng buộc, ngăn cản, phi lý đến ngang ngược của kẻ cướp. 

Thời điểm đổi tiền cũng xảy ra vào lúc Hà Nội mới thiết lập sự quản lý hành chánh xã hội ở miền nam bằng biện pháp hộ khẩu. Hộ khẩu quyết định tất cả mọi sinh hoạt trong đời sống của người dân, tất nhiên sẽ là công cụ chứng minh quan trọng nhất khi đổi tiền, nhưng đây cũng là lúc cộng sản đang tích cực lùa người dân miền nam Việt Nam vào những vùng kinh tế mới - kiểu đem con bỏ chợ, sống không nổi, họ phải trôi giạt về lại chốn cũ, thì nhà cửa không còn, hộ khẩu không có nên cũng không thể đổi được số tiền ít ỏi rơi rớt sót lại, nên cuộc sống đã cùng cực, lại càng thêm thê thảm. 

Trong khi đó, trên bình diện toàn xã hội, ảnh hưởng bởi tư tưởng tự mãn, tự kiêu, cho đảng cộng sản Việt Nam quang vinh vô địch, bách chiến bách thắng, là đỉnh cao trí tuệ loài người và là lương tâm thời đại, Hà Nội ngã hẳn về phía Lienxo, chấp nhận đóng vai trò đạo quân tiền phong, trong mũi xung kích bành trướng ý thức hệ cộng sản ra khắp Đông nam Á của đệ tam quốc tế. 

Dù đang trong hoàn cảnh bị Hoa Kỳ cấm vận, các quốc gia Âu châu, Nhật Bản đã ngừng những chương trình viện trợ, Hà Nội vẫn giáo điều, chìm đắm trong các nhận định ấu trĩ cộng sản, tả khuynh, tiếp tục lòe bịp người dân, khỏa lấp khó khăn hiện tại và nhắm tới một tương lai huy hoàng trên giấy. Từ dự tính mỗi đầu người sẽ có được hai quả trứng một năm và bảo đảm sẽ có đủ nước chấm (?) cho tất cả mọi gia đình trên toàn quốc như kế hoạch năm năm 1976 - 1980 đề ra, đến vẽ vời ảo tưởng nhảy vọt, chỉ cần hai kế hoạch năm năm là đủ đưa Việt Nam vào hàng các quốc gia trung bình tiên tiến của thế giới (tức đã phát triển tương đối văn minh, giàu có). 

Không khác gì thói ba hoa, lừa bịp của đảng cộng sản Lienxo khi mới cướp được chính quyền Nga Sa hoàng, luôn giương cao khẩu hiệu hòa bình, ruộng đất, bánh mì và câu nói khoác lác, mị dân… Rồi sẽ có bánh mì và có tất cả... đã đi vào lịch sử của V. I Lénin, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thư chúc tết năm 1976, cũng đã tỏ ra không hề kém cạnh khi... mơ giữa ban ngày và tuyên bố chỉ trong vòng mười năm tới, mỗi gia đình Việt Nam sẽ có đủ một radio, một tivi và một tủ lạnh. 

Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định chỉ trong hai mươi năm nữa, Việt Nam sẽ bắt kịp và rồi vượt qua Nhật Bản để trở nên một quốc gia tiên tiến?! từ đó đẩy mạnh chủ trương, hoạch định và thực hiện liên tiếp các chương trình, kế hoạch kinh tế "đi tắt, đón đầu" đầy thiển cận, chủ quan, giáo điều, đồng thời tích cực bắt lính trên toàn miền nam Việt Nam, để vừa có thể tiêu diệt bớt thành phần con dân Ngụy một cách hợp lý, vừa có nhân lực đáp ứng cho nhu cầu trước mắt của đệ tam quốc tế cộng sản là tiếp tục tiến chiếm Cambodia, tạo ra thế uy hiếp cạnh sườn Thailand và công khai chống lại đàn anh Trung cộng. 

Do vậy chỉ trong vòng 10 năm ngắn ngủi... Việt Nam đã hầu như hoàn toàn bị cô lập. Các nước cùng khu vực lo lắng sau khi chiếm Cambodia thì Việt Nam sẽ đưa sức mạnh quân sự ra toàn vùng Đông Nam Á. Trung cộng thì ra sức đặt vấn đề Việt Nam xâm lược Cambodia và có mưu đồ lập lại liên bang Đông Dương hầu làm chủ vương quốc Lào và luôn Cambodia... (Trần Quang Cơ, thứ trưởng ngoại giao CHXHCNVN, Hồi ức và suy nghĩ, 2005). Trong nước cuộc khủng hoảng toàn diện về kinh tế - xã hội cũng đã lên tới cao điểm, ảnh hưởng đến toàn bộ các mặt hoạt động của nền kinh tế quốc dân, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đều giảm đến mức thấp nhất, khiến... Cả nước trải qua những cơn đói xanh mặt (...). Người người nhìn nhau ngờ vực. Nhà nhà soi mói vào bếp của nhau. Ngay cả những người đã từng một thời hân hoan, vui mừng trước chiến thắng và thống nhất đất nước, nay cũng phải bừng tỉnh, vì cái giá phải trả quá lớn... (Trần Khải, 30/4 và thuyền nhân, 2002). Mọi mặt sinh hoạt của toàn xã hội đều suy đồi nghiêm trọng đến mức gần như phá sản vào năm 1985. 

Để chống đỡ và hy vọng cứu vãn được tình hình, hội nghị trung ương lần thứ 8 trong tháng 6/1985 của đảng cộng sản Việt Nam, thông qua quyết nghị thực hiện một cuộc cải cách lớn về giá, lương, tiền, còn gọi là cuộc tổng điều chỉnh giá lương tiền và tiến hành cuộc đổi tiền, cướp tiền lần thứ ba. 

Đại kế hoạch được xướng xuất và chỉ đạo bởi ba giáo sư kinh tế xã hội chủ nghĩa, gồm Đoàn Trọng Truyền, chủ nhiệm ủy ban vật giá nhà nước, bộ trưởng phủ thủ tướng, Trần Phương (Vũ Văn Dung) phó chủ nhiệm ủy ban kế hoạch nhà nước, phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng, Trần Quỳnh, chủ nhiệm ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước, phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng. Tất cả đều đặt dưới quyền của Tố Hữu (Nguyễn Kim Thành), đệ nhất phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng chính phủ CHXHCNVN, thay mặt bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam trực tiếp chỉ huy và điều động. 

Dù Hà Nội cố sức giấu diếm, che đậy, nhưng tin đồn đổi tiền cứ loan truyền âm ỹ trong dân chúng, do tình hình kinh tế ngày càng thêm kiệt quệ không còn có thể "lấy thúng úp voi" được, nên để đánh úp dân, đảng cộng sản thông qua các hệ thống truyền thông do nhà nước kiểm soát, cực lực bác bỏ mọi tin tức liên quan đến kế hoạch đổi tiền, vu khống và chụp mũ đó chỉ là âm mưu đánh phá của các thế lực thù địch, phản động. Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 12/9/1985 trong bài viết "Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương" đã đe dọa "với sự tăng cường hiệu lực của bộ máy chuyên chính vô sản, mọi hậu quả tin đồn phải được thanh toán triệt để ". Sáng 14/9 cũng chính các hệ thống tuyên truyền này – thô bỉ chẳng khác gì các hạng mặt chai, mày đá – lật lọng loan báo giới nghiêm, công bố quyết định của Phạm văn Đồng, thủ tướng nhà nước CHXHCNVN về việc phát hành tiền mới và thu hồi tiền cũ. 

Cũng theo luận điệu ngụy biện cho hành vi ăn cướp, Hà Nội khẳng định đổi tiền là hoạt động tiến hành cải cách kinh tế, để đưa nền kinh tế tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững lên chủ nghĩa xã hội, cụ thể là phát động một cuộc cách mạng về giá, lương, tiền trong cả nước và đổi tiền là để bảo đảm cho giá trị của đồng tiền, giữ vững giá trị đồng lương và ổn định giá cả sinh hoạt (?). Chủ tịch ủy ban thành phố Sài Gòn là Phan Văn Khải cũng trơ tráo lên báo lươn lẹo ngụy biện "nhà nước đổi tiền là vì lợi ích của nhân dân lao động"(?). 

Quyết định 01/HĐBT/TĐ do Phạm Văn Đồng ký ngày 13/9, quy định tỷ giá đồng tiền mới bằng 10 lần đồng tiền cũ, áp dụng trong việc thu, đổi tiền đang lưu hành, chuyển đổi tiền của tài khoản ngân hàng, trên sổ sách chi thu và trong tính toán giá trị tất cả các tài sản, vật tư, hàng hóa, cùng mọi khoản chi trả khác. 

Quyết định số 02/HĐBT/TĐ cũng do Phạm Văn Đồng ký cùng ngày, quy định thu đổi ngay 4 loại tiền lớn 100, 50, 30, 20 đồng, các loại tiền từ 10 đồng trở xuống vẫn lưu hành, nhưng tất cả đều quy đổi theo tỷ giá giao hoán 10 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới. Mức tiền đổi ngay quy định theo đơn vị gia đình. Hộ gia đình độc thân, hay mỗi người trong hộ tập thể được đổi tối đa 15.000 tiền cũ quy ra 1.500 tiền mới. Mỗi hộ gia đình từ hai người trở lên, được đổi tối đa 20.000 cũ bằng 2.000 tiền mới. Các hộ kinh doanh công thương nghiệp có môn bài bậc cao, loại 1 và 2 được đổi 50.000 tiền cũ, quy ra 5.000 tiền mới. Các số tiền vượt mức quy đổi ngay, phải nộp lại và có hai cách giải quyết sau, đối với thành phần cán bộ viên chức nhà nước, công an, lực lượng võ trang và nhân dân lao động, nhà nước khuyến khích gởi vào các quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa, riêng đối với số tiền thu nhập bất chính do đầu cơ, buôn lậu, bóc lột người khác đều phải tịch thu, nhập vào tài khoản ngân sách của tỉnh, thành phố và đặc khu. 

Với quy định người dân phải giao nộp hết số tiền sở hữu trong vòng 3 – 5 ngày và chỉ được nhận lại một mức hạn định khắt khe, thì rõ ràng đây chỉ là một hành vi nhà nước ăn cướp tiền của dân bằng luật. Chưa hết, đổi tiền rồi cộng sản bắt đầu cho in tiền vô tội vạ, gọi là để phục vụ cho nhu cầu cải cách lương và giá. Mới hơn ba tháng sau ngày đổi tiền, ngân hàng nhà nước cộng sản đã tung ra lưu hành một số tiền cao gấp 1,4 lần so với trước, khiến lạm phát phi mã bùng nổ tạo ra đỉnh cao trong nghệ thuật nhà nước tước đoạt tiền và bần cùng hóa nhân dân. 

... Chỉ trong vòng bốn tuần lễ sau khi đổi tiền, giá cả của hầu hết các loại nhu yếu phẩm đã đồng loạt tăng lên gấp mười lần, lại kéo giá đồng tiền mới xuống bằng giá trị đồng tiền cũ. Trong khi đó, tình trạng thiếu thốn gia tăng nhanh đến mức nạn đói đã trở thành một nguy cơ thực sự tại các tỉnh miền bắc và miền trung, nhất là ở những vùng đang gặp thêm thiên tai bão lụt (Lê Mạnh Hùng, Việt Nam sau 1975: Đổi mới và sự sụp đổ của ý thức hệ cộng sản, 2009). 

Mới đổi tiền, giá 1kg gạo bao cấp là 0,04 đồng, trên thị trường chợ đen là 0,12 đồng, đến đầu 1988 đã tăng lên 2.500 đồng một kg, mức độ lạm phát hơn 20.000 lần, nhanh chóng dìm cuộc sống người dân xuống mức thê thảm đến tận cùng. Đổi tiền người dân có 10 đồng, bị nhà nước cướp 9 đồng, chỉ còn 1 đồng, sau đổi tiền tới lượt lạm phát như con nước lũ cuốn trôi mất hết những gì gọi là của cải, tài sản và làm hàng triệu người lâm vào cảnh tán gia bại sản. Hàng ngàn, hàng vạn chuyện đau khổ liên quan tới đồng tiền sau cuộc đổi tiền như bán con bò, nhận lại con gà, hay tiền mua một căn nhà bị ép gởi vào quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa đến khi kết toán chỉ còn đủ để gặm vài khúc bánh mì… trở thành câu chuyện thời đại cộng sản, mà các thống đốc ngân hàng "tài ba, bản lãnh của chế độ trong suốt thời kỳ đó đến gần đây, như Nguyễn Duy Gia, Lữ Minh Châu, Cao sĩ Kiêm, Đỗ Quế Lượng… đều chứng tỏ có đủ phẩm chất máu lạnh cộng sản khuyên người dân hãy coi đó là rủi ro của thời cuộc, cũng như "nhân nghĩa bà Tú Đễ" cho rằng nhà nước cũng rất muốn bù đắp thiệt thòi cho người dân, nhưng không thể, nên chúng ta (?) đành phải chấp nhận và coi đó là một giai đoạn lịch sử mà chúng ta (?) đã phải trải qua. 

http://danlambaovn.blogspot.com/2018/03/an-cuop-co-licence-ba-lan-oi-tien-o.html