Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

"Việt Nam chỉ là "hạ quốc": Học giả Trung Quốc bình luận chiến lược của Hà Nội ở Biển Đông

"Việt Nam chỉ là "hạ quốc": Học giả Trung Quốc bình luận chiến lược của Hà Nội ở Biển Đông
https://sptnkne.ws/hafz
Việt Nam và Biển Đông 


"Với các "hạ quốc" như Việt Nam thì dù có sát nách ta, cũng chẳng đáng xem"...Trung Quốc có cả một đội ngũ nghiên cứu, theo dõi nhất cử nhất động của Hà Nội trên Biển Đông và trong quan hệ với các nước khác. Còn Việt Nam đường như đã chuẩn bị cho chiến tranh nhân dân trên Biển Đông.

Vấn đề được tác giả Bổ Nhất Đao và một số học giả Trung Quốc đặt ra trong bài báo đăng trên Thời báo Hoàn Cầu ngày 14/3/2018, tròn 30 năm ngày thảm sát Gạc Ma.
Trong phần này, các tác giả Trung Quốc bình luận về chính sách của Việt Nam trên Biển Đông, để làm cơ sở đề xuất một số giải pháp với giới hoạch định chính sách Trung Nam Hải mà chúng tôi sẽ trình bày trong bài viết tới. 
Vẫn với bố cục 2 phần để đảm bảo tính khách quan, minh bạch của thông tin, xin mời quý bạn đọc theo dõi phần quan điểm, lập luận của một số học giả Trung Quốc trong phần in nghiêng, chú thích và bình luận của người viết in thẳng.
Tiêu đề phụ của bài viết do chúng tôi đặt để làm nổi bật thông điệp của mỗi bên.
Đối ngoại chiếu trên
Giáo sư Hứa Kỷ Lâm, Đại học Sư phạm Hoa Đông.
Giáo sư Hứa Kỷ Lâm, Đại học Sư phạm Hoa Đông.
Giáo sư Hứa Kỷ Lâm từ Đại học Sư phạm Hoa Đông từng nói:
"Cái thế ngoại giao của Trung Quốc về mặt tập quán có thể phân thành thượng quốc và hạ quốc. Với các thượng quốc như Hoa Kỳ, (Trung Quốc) thường quan sát tỉ mỉ chân tơ kẽ tóc, việc nhỏ đến đâu cũng xem là việc lớn. Còn với các "hạ quốc" như Việt Nam thì dù có sát nách ta, cũng chẳng đáng xem, cho nên thiếu những hiểu biết tối thiểu về họ. Những nước nhỏ như thế có lúc còn khó đối phó hơn là nước lớn. Muốn bảo vệ chủ quyền quốc gia, đầu tiên phải tìm hiểu quốc gia láng giềng bất khuất, đồng chủng đồng văn với chúng ta.
Lời của Giáo sư Hứa Kỷ Lâm tuy có hơi nặng, nhưng cho thấy rất rõ vấn đề. Ví như Việt Nam trong giai đoạn trước đây, họ đã âm thầm làm tốt được mấy việc ngay trước mắt chúng ta."
7 điểm "tổng kết" của tác giả Bổ Nhất Đao về chính sách của Việt Nam trên Biển Đông qua lăng kính học giả Trung Quốc
"Thứ nhất là thúc đẩy việc xây dựng đảo, đá. 
Đến cuối năm ngoái Bloomberg tiết lộ, Việt Nam đã tăng cường xây dựng được khá nhiều công trình trên Đá Tây thuộc quần đảo Trường Sa.
Thực ra chẳng riêng gì Đá Tây, theo thống kê của tổ chức Sáng kiên Minh bạch hàng hải châu Á, từ 2014 đến nay, Việt Nam đã bồi đắp được 0,49 km vuông trên 10 đảo nhỏ ở Biển Đông.
Do nguyên nhân nguồn lực tài chính và kỹ thuật (còn thiếu thốn, khó khăn), nên hầu hết các công trình xây dựng Việt Nam tiến hành trên các đảo, bãi đá đều dùng sức người khuân vác.
Nói như truyền thông quốc tế, quy mô các công trình xây dựng của Việt Nam "rất nhỏ", cho nên họ hầu hết đều có thái độ phê phán Trung Quốc và đồng tình với Việt Nam trong việc xây dựng đảo.
Tuy nhiên chúng ta không thể xem thường Việt Nam, cách thức xây dựng theo kiểu "kiến tha lâu có ngày đầy tổ" diễn ra suốt mấy chục năm, nên khả năng kiểm soát của Việt Nam với các đảo, đá ngày càng mạnh.
Ngoài ra, Việt Nam cũng áp dụng một loạt thủ đoạn chiếm lĩnh và củng cố. Trên 29 điểm đảo, đá ở Trường Sa, Việt Nam có 2 đội quân.
Một đội quân chính quy, phân bố từ vài chục người đến cả trăm người trên các đảo, đá tùy quy mô lớn nhỏ của các cấu trúc địa lý.
Đội quân thứ hai mang phiên hiệu đặc thù, 386199, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em và người gia hình thành một tổ chức dân sự.
Đây là chiến thuật quân đội chiếm lĩnh đến đâu cho dân theo sinh sống đến đó.
Hơn nữa nhiều tỉnh thành của Việt Nam đều "kết nghĩa" với 1 hoặc một vài đảo, đá để cung cấp trợ giúp cho quân dân trên đảo, từ chi phí sinh hoạt, điện thoại cho đến thăm hỏi…để duy trì tính ổn định của dân số trên đảo.
Xem ra Việt Nam đường như đã chuẩn bị cho chiến tranh nhân dân trên Biển Đông.
Thứ hai là (Việt Nam) tăng cường khống chế các vùng biển tranh chấp. 
Tháng Sáu năm ngoái, các hoạt động của Việt Nam tại bãi Tư Chính đã gây phiền phức cho quan hệ Việt — Trung, đây là một hành động có ảnh hưởng tương đối lớn của Việt Nam trên Biển Đông.
Những năm gần đây, Việt Nam liên tục lấy lý do quản lý hoặc khai thác vùng đặc quyền kinh tế và ngư trường truyền thống để đưa các tàu cá, tàu khảo sát, tàu du lịch và thúc đẩy hoạt động khai thác tài nguyên ra phía trước, với các tàu Cảnh sát biển, Kiểm ngư hộ tống phía sau, tiến ra khu vực Hoàng Sa, Trường Sa.
Việt Nam tuyên truyền nhất quán rằng, mỗi một tàu cá đều là một bia chủ quyền di động.
Trước đây, tàu cá của Việt Nam tương đối nhỏ, động cơ yếu, trang bị kém nên không có năng lực đánh bắt tầm xa.
Chính phủ Việt Nam đã ra các chính sách cổ vũ, hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho ngư dân, nâng cao đáng kể năng lực đánh bắt xa bờ cho ngư dân.
Tàu cá Trung Quốc rời cảng Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang thẳng tiến Hoa Đông
Tàu cá Trung Quốc rời cảng Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang thẳng tiến Hoa Đông
Hơn nữa, Việt Nam còn có ý nâng cao năng lực phi xung đột vũ trang, với các tàu được chế tạo mới họ đặc biệt quan tâm đến khả năng (đối phó với việc bị tàu Trung Quốc có mũi thép nhọn) đâm húc, năng lực đối kháng, ngoài ra còn trang bị pháo cho các tàu Cảnh sát biển.
Thứ ba là tăng cường ý thức chủ quyền quốc gia cho dân chúng.
Việt Nam thông qua một loạt động thái từ lập pháp đến thực thi chủ quyền nhằm tăng cường cái gọi là chủ quyền của họ với các đảo, đá họ chiếm đóng.
Những việc này được họ triển khai một cách vững chắc từng bước, kiên trì lâu dài.
Năm 2007 Việt Nam thông qua Chiến lược biển đến năm 2020, nâng chiến lược biển lên tầm quyết sách, ý chí quốc gia của Đảng, Nhà nước, tạo nền tảng cho các chính sách về hoạt động trên biển và giải quyết các vấn đề trên biển.
Năm 2009 Việt Nam thông qua Luật Dân quân tự vệ, luật quy định dân quân biển có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.
Năm 2012 Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam.
Năm 2015 Việt Nam thông qua Luật Trưng cầu dân ý để đặt nền móng cho sau này có thể mượn cớ ý dân, gây áp lực với Trung Quốc trên Biển Đông.
Năm 2016 Đại hội 12 Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam với các đảo, đá và quyền lợi biển.
Đồng thời Việt Nam còn thông qua giáo dục, triển lãm, tuyên truyền…để tăng cường ý thức chủ quyền cho dân chúng;
Thông qua hoạt động du lịch, quyên tặng, tổ chức đoàn thăm hỏi, phỏng vấn nghiên cứu ra các đảo, Việt Nam đã nâng cao sự tham dự của các giới trong xã hội vào vấn đề Biển Đông, duy trì mức độ quan tâm của dân chúng đến Biển Đông.
Trên báo VietNamNet Bridge, có chuyên gia Việt Nam còn kiến nghị phải đưa vụ thảm sát Gạc Ma vào trong sách giáo khoa lịch sử để các thế hệ mai sau luôn ghi nhớ, đừng quên.
Thứ tư là tạo dựng thanh thế quốc tế.
Các nhà lãnh đạo Việt Nam tận dụng mọi cơ hội và địa điểm thích hợp để kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế, tự do hàng hải.
Giới học thuật, ngoại giao Việt Nam cũng làm cho nổi đình nổi đám. Bắt đầu từ 2010, Việt Nam dẫn đầu trong việc tổ chức các hội thảo quốc tế về tranh chấp trên Biển Đông.
Máy bay vận tải quân sự Y-9 của Trung Quốc diễn tập thả hàng ở Biển Đông đầu tháng 12
Máy bay vận tải quân sự Y-9 của Trung Quốc diễn tập thả hàng ở Biển Đông đầu tháng 12
Thậm chí tại các hội nghị không liên quan gì đến Biển Đông, Việt Nam cũng tổ chức các triển lãm về cái gọi là "chủ quyền lịch sử" của mình trên Biển Đông.
Trên lĩnh vực khai thác dầu khí, Việt Nam đã đặc biệt mời gọi các doanh nghiệp nước ngoài vào cùng khai thác.
Nói thật, trên phương diện chiếm quyền thượng phong ngôn luận, quyền phát ngôn trong dư luận quốc tế, Việt Nam đã làm tốt hơn chúng ta.
Tờ Sankei Shimbun của Nhật Bản từng đăng bài "Nhật Bản nên lấy mô hình ngoại giao của Việt Nam làm kiểu mẫu" của trưởng văn phòng đại diện báo này tại Trung Quốc.
Bài viết cho rằng, Việt Nam hoàn toàn không thua Trung Quốc ở tầm cao ngoại giao và trí tuệ, Nhật Bản nên lấy Việt Nam làm hình mẫu, điều này cho thấy rất rõ vấn đề.
Thứ năm, (Việt Nam) biết tận dụng tối đa các cơ chế quốc tế.
Có học giả Việt Nam xem luật pháp quốc tế và ASEAN là 2 cơ chế để kiềm chế Trung Quốc.
Quốc tế hóa là một thủ đoạn quan trọng của Việt Nam trong chiến lược Biển Đông và họ đã làm rất thành công.
Việt Nam có ý tạo dư luận quốc tế để tăng thêm tính phức tạp của vấn đề Biển Đông, dùng dư luận quốc tế để kiềm chế Trung Quốc.
Giống như những người tí hon trong tác phẩm "Những cuộc phiêu lưu của Gulliver" muốn trói chặt Gulliver, Việt Nam định dùng pháp lý và tổ chức khu vực để buộc chân Trung Quốc.
Được biết Việt Nam đã nghiên cứu các biện pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ít nhất được 10 năm.
Hiện tại Việt Nam chưa kiện (Trung Quốc) ra cơ quan tài phán quốc tế, đại khái là họ lên kế hoạch trước, rồi sẽ hành động sau.
Ngoài ra Việt Nam đặt kỳ vọng vào ASEAN và Việt Nam là một thành viên có ảnh hưởng trong khối, luôn luôn có nhiều tiểu xảo trong ASEAN hòng thúc đẩy khối này ngày càng cứng rắn với Trung Quốc.
Thứ sáu là tạo ra "mặt trận thống nhất quốc tế".
3 tháng đầu năm nay Việt Nam đã có khá nhiều trò trong lĩnh vực này. Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ vừa kết thúc chuyến thăm Việt Nam;
Tàu sân bay Mỹ USS Carl Vinson tại cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng
© AP PHOTO/ TRAN VAN MINH
Tàu sân bay Mỹ USS Carl Vinson tại cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng
Ấn Độ vừa kết thúc cuộc tập trận chung 16 nước, Việt Nam là một quan sát viên tích cực, một trong những hạng mục quan trọng của cuộc tập trận này là phong tỏa trên biển.
Trong tháng Hai, Hải quân Việt Nam đưa vào biên chế 2 tàu hộ vệ Gepard do Nga chế tạo;
Tháng Giêng, Đại tướng Yamazaki Koji, Tham mưu trưởng Lực lượng Tự vệ mặt đất Nhật Bản thăm Việt Nam, tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương mật thiết.
Ngoài ra còn Australia, từ 2016 trở lại đây các chiến hạm Australia đã cập cảng Cam Ranh.
Tâm tư của Việt Nam đã lộ rất rõ:
Họ muốn thông qua việc xây dựng quan hệ với 5 nước lớn để cân bằng với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, đó là các quan hệ Việt — Mỹ, Việt — Nhật, Việt — Nga, Việt — Ấn và Việt — Úc.
Thứ bảy là Việt Nam tiếp tục dùng sức mạnh mưu cầu (bảo vệ) các vùng biển.
Những năm qua, ngân sách quốc phòng của Việt Nam tăng mạnh, từ 1,3 tỉ USD năm 2006 tăng lên 4,6 tỉ USD năm 2015, tăng trưởng 258%.
Trong các quân binh chủng, Hải quân Việt Nam tăng trưởng mạnh nhất. Từ 2011 đến 2015, tàu chiến nhập khẩu của hải quân Việt Nam chiếm 44% giá trị nhập khẩu quốc phòng của Việt Nam.
Ước tính trong vài năm tới Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì quỹ đạo tăng trưởng này.
Các sĩ quan Mỹ trên tàu sân bay Hải quân Hoa Kỳ Carl Vinson tại cảng Đà Nẵng, Việt Nam
© AP PHOTO/ HAU DINH
Các sĩ quan Mỹ trên tàu sân bay Hải quân Hoa Kỳ Carl Vinson tại cảng Đà Nẵng, Việt Nam
7 điểm trên đây là tổng kết chị Đao rút ra được sau khi thỉnh giáo nhiều vị chuyên gia (Trung Quốc) về Việt Nam. Bài này mới đề cập được đến đây, hoan nghênh các bạn hiểu biết sâu rộng bổ sung thêm."
Vài lời bình luận
Thứ nhất, Việt Nam củng cố các công trình cơ sở hạ tầng trên quần đảo Trường Sa là nhằm mục đích nâng cao năng lực phòng thủ và phục vụ đời sống dân sinh, hoàn toàn hợp pháp và chính đáng trên lãnh thổ của mình.
Hơn nữa, những công trình cơ sở hạ tầng này hoàn toàn không đe dọa đến tự do hàng hải cũng như an ninh của các quốc gia khác.
Đây là nhận thức chung của tất cả các nước trong và ngoài khu vực, thể hiện qua các tuyên bố chính thức, chứ không riêng Việt Nam.
Hoạt động này khác về bản chất so với việc Trung Quốc đảo hóa, quân sự hóa các cấu trúc địa lý trên 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, mà họ cưỡng đoạt và chiếm đóng trái phép.
Quy mô và tính chất các pháo đài quân sự Trung Quốc dựng lên ở Biển Đông gây lo ngại cho phần còn lại của thế giới có lợi ích hợp pháp trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông.
Thứ hai, bãi Tư Chính nằm hoàn toàn trong thềm lục địa phía Nam Việt Nam, không liên quan đến quần đảo Trường Sa và không có tranh chấp. 
Mọi hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa nước mình hoàn toàn phù hợp Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.
Chúng tôi phản đối và bác bỏ các lập luận của tác giả Bổ Nhất Đao cùng các nhà nghiên cứu Trung Quốc về cái gọi là "vùng biển tranh chấp" trong phần lập luận thứ 3 này.
Các hoạt động của Việt Nam diễn ra hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam, xác lập theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và không có tranh chấp.
Mọi lập luận biến các vùng biển không tranh chấp thành có tranh chấp chỉ là âm mưu, thủ đoạn hiện thực hóa đường lưỡi bò đã bị Phán quyết Trọng tài 12/7/2016 bác bỏ một cách thuyết phục.
Thứ ba, việc tuyên truyền ý thức bảo vệ chủ quyền và các quyền, lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông là rất cần thiết, thường xuyên, lâu dài.
Quả thực cá nhân người viết không dám nhận phần đánh giá cao của các học giả Trung Quốc.
Tuy rằng chúng ta đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, nhưng để đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.
Huống hồ Trung Quốc dựa vào nguồn lực tài chính dồi dào, họ không tiếc tiền thành lập các viện nghiên cứu, tổ chức các hội thảo, vận động hành lang, lợi dụng mọi cơ hội và tổ chức quốc tế để tuyên truyền cho đường lưỡi bò và cái gọi là "chủ quyền lịch sử" trên Biển Đông đã bị Tòa trọng tài bác bỏ.
Thứ tư, Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng lịch sử có giá trị pháp lý để khẳng định chủ quyền với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 
Việt Nam không dựa vào các tài liệu lịch sử thuần túy, bởi đối phương vốn đủ chiêu trò, thừa mưu mẹo để làm giả các tư liệu này, quan trọng hơn là họ tìm cách vô hiệu hóa các hệ quy chiếu pháp lý quốc tế để bảo vệ cho lập luận "chủ quyền lịch sử" của mình ở Biển Đông.
Các lập luận thứ năm, thứ sáu, thứ bảy mà tác giả Bổ Nhất Đao sau khi tham vấn các chuyên gia Trung Quốc về Việt Nam đưa ra, chúng tôi cho rằng đó là sự đề cao thái quá có mục đích.
Chúng tôi cho rằng các hoạt động này hoàn toàn hợp pháp, chính đáng và là một trong những giải pháp hòa bình để tạo môi trường, thúc đẩy giải quyết các tranh chấp trên cơ sở luật pháp, thực tiễn quốc tế.
Còn nói về việc tăng ngân sách quốc phòng và khả năng phòng thủ, đó là việc cần phải làm. Nếu nhìn vào quy mô và kích thước ngân sách quân sự của Trung Quốc, thì 10 nước Đông Nam Á cộng lại cũng chưa bằng một phần của họ.
Nhưng thế mạnh của Việt Nam nằm ở chính nghĩa, với tinh thần giặc đến nhà đàn bà cũng đánh và nói phải củ cải cũng nghe, phòng thủ trong khả năng có thể và đặt trong tổng thể chiến lược đối ngoại, đối nội chứ không phải chạy đua với Trung Quốc về vũ khí.
7 vấn đề về chính sách của Việt Nam trên Biển Đông qua góc nhìn của các học giả Trung Quốc cho thấy một điều rất rõ: 
Trung Quốc có cả một đội ngũ nghiên cứu, theo dõi về nhất cử nhất động của Việt Nam, có điều họ nói ra hay không, nói ra khi nào và nói đến đâu mà thôi.
Chúng tôi thiết nghĩ, những gì các nhà nghiên cứu Trung Quốc "xì ra" cho tác giả Bổ Nhất Đao và Thời báo Hoàn Cầu mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. 
Đây là điều mỗi học giả, mỗi người Việt Nam cần nghiêm túc suy nghĩ về nó.
Qua đây, chúng tôi cũng mong muốn ngày càng có nhiều tiếng nói từ các nhà nghiên cứu Việt Nam trong cũng như ngoài nước, để giúp dư luận hiểu thêm về các vấn đề pháp lý trên Biển Đông;
Các xu hướng chính trị khu vực và quốc tế tác động trực tiếp đến Biển Đông và an ninh quốc gia, tính toán của các siêu cường cũng như các bên liên quan…
Bởi suy cho cùng, đối nội và đối ngoại đều quan trọng.
Giúp cho dư luận người Việt trong và ngoài nước có đầy đủ thông tin và hệ quy chiếu pháp lý cần thiết để đánh giá các sự kiện là một cách đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp hiệu quả, bởi cái hiểu đúng và đầy đủ ấy sẽ được lan truyền rộng khắp.
Theo: Thời Báo Hoàn Cầu, GDVN

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2018

Đặc khu hay mật khu?

Đặc khu hay mật khu?

… Nếu Google hay Facebook chấm dứt quan hệ với Việt Nam vì bị kiểm soát, sau khi Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, thì Tàu cộng sẽ nhảy vào Việt Nam ngay lập tức bởi vì Việt Nam chưa có khả năng thay thế Google hay Facebook. Và nếu chẳng may, hay đảng CSVN cố ý tạo cơ hội cho Tàu cộng nhảy vào thị trường Việt Nam qua Luật An ninh mạng thì chuyện 3 Đặc khu kinh tế sẽ biến thành 3 Mật khu cũng chỉ trong nháy mắt…
– “Get out, China!”, “KHÔNG đặc khu, KHÔNG an ninh mạng!” 
– “Cho thuê đất là bán nước!”
– “Đả đảo cộng sản bán nước”, “Đả đảo Việt gian.” 
– “Đả đảo Luật An Ninh Mạng, Luật Bịt Miệng dân.” 
– “Bài học từ Formosa: Một ngày cũng không cho thuê đất.” 
– “Thà đất nước nghèo mà bình yên- Ham giàu mà mất nước.”
– “Vì độc lập, phản đối đặc khu”! 
– “Vì tự do, phản đối luật an ninh mạng”!
Đó là những thông điệp sét đánh của hàng chục ngàn người dân, từ trẻ đến già, đã gửi cho Quốc hội và đảng cầm quyền CSVN trong hai ngày biểu tình 10 và 11 tháng 06 (2018) từ Sài Gòn ra Hà Nội. 
Đây là lần đầu tiên trong 43 năm, kể từ ngày quân Cộng sản chiếm Sài Gòn tháng 04/1975, một bộ phận không nhỏ người dân, thuộc mọi thành phần xã hội, đã đồng loạt biểu dương thái độ và lập trường dứt khoát như thế tại Sài Gòn, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Thuận, Khánh Hòa, Đà Nẵng, Nghệ An v.v… 
Tại mỗi nơi, khí thế yêu nước quyết không để một tấc đất Tổ quốc lọt vào tay ngoại bang, nhất là Tàu cộng, đã bốc lên giữa trời nắng cháy.
Những tiếng hô chống “Đặc khu” và “An ninh mạng” đanh thép chen nhau như hình với bóng đã bùng lên cương quyết và dứt khoát trên các gương mặt trẻ măng và của các cụ gìa heo hắt nắng mưa.
Hòa nhịp theo những bước chân nườm nượp của đoàn người biểu tình qua các ngả đường hay từng nhóm nhỏ ở Sài Gòn và Đồng Nai là những tiếng hát hùng dũng của nhạc bị cấm “Trả lại cho dân”, đòi quyền con người và “Việt Nam tôi đâu” nhắm báo động nguy cơ mất nước vào tay Tàu cộng.
Đây là hai trong số các bản nhạc yêu nước đã khiến tác giả ca, nhạc sỹ Việt Khang bị CSVN phạt 4 năm tù và 3 năm quản chế. Việt Khang ra tù ngày 14/12/2015 và đã được sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị từ ngày 08/02/2018.
Nguyên do biểu tình 
Nhưng tại sao người dân đã bất chấp hiểm nguy để nổi lên đòi quyền làm chủ đất nước và quyền tự do ngôn luận? 
Trước hết, vì Nhà nước đã có những khuất tất trong việc soạn thảo Dự luật thành lập 3 “Đặc khu hành chính và kinh tế”, tên đầy đủ là: “Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (Luật đặc khu).”
Cả 3 vị trí đều có giá trị chiến lược quốc phòng hàng đầu để bảo vệ lãnh thổ nhìn ra Biễn Đông: 
– Vân Đồn (Tỉnh Quảng Ninh), cửa ngõ ra Vịnh Bắc Bộ, là chặng dừng chân đầu tiên của tàu bè Trung Hoa đi xuống Việt Nam, nhưng cũng là tuyến phòng ngự ở vùng biển Đông Bắc của Việt Nam từ thời các vua chúa Việt. Hơn nữa Vân Đồn chỉ cách đảo Hải Nam, căn cứ Tàu ngầm của Trung Hoa, chừng 200 hải lý (mỗi hải lý dài 1,852 mét).
– Bắc Vân Phong (Tỉnh Khánh Hòa), nhìn thẳng ra Trường Sa, trực diện với các vị trí đóng quân của Trung Hoa trên các bãi đá, nay đã biến thành đảo mà Bắc Kinh chiếm của Việt Nam từ 1988 gồm Subi, Gaven, Chữ Thập, Gạc Ma và Châu Viên. Ngoài ra Bắc Vân Phong cũng chỉ cách vịnh chiến lược nổi tiếng Cam Ranh trên 60 cây số. Khánh Hòa cũng là nơi phát xuất các tàu Hải quân Việt Nam tiếp vận lương thực và luân chuyển quân lính ra vào 21 vị trí đóng quân của Việt Nam ở Trường Sa.
– Phú Quốc (Tỉnh Kiên Giang), nằm trong vịnh Thái Lan là vị trí phòng thủ chiến lược cực nam của Việt Nam. Từ Phú Quốc, tàu bè và máy bay có thể đi khắp Á Châu – Thái Bình Dương, sang Ấn Độ Dương để đi qua Trung Đông.
Vì tầm quan trọng của 3 địa điểm mà nhiều Đại biểu Quốc Hội, nhân sỹ, trí thức và đông đảo người dân trong và ngoài nước đã lên tiếng phản đối hay khuyến cáo chính phủ và Quốc hội phải tuyệt đối thận trọng không để lãnh thổ Tố quốc lọt vào tay Tàu Bắc Kinh vì bất cứ lý do nào.
Đồng thời tuyệt đa số trong dư luận cũng nhất quyết chống thời hạn cho người nước ngoài thuê đất ở Đặc khu dài đến 99 năm, thay vì tối đa là 70 năm như Luật Đất đai hiện hành.
Sở dĩ người dân lo ngại vì kinh nghiệm trong hơn 30 năm đổi mới, nhiều dự án kinh tế của Việt Nam đã lọt vào tay các doanh nghiệp Tàu vì họ không ngần ngại bỏ thấu giá cao để nhảy vào Việt Nam bằng mọi giá.
Bị xỏ mũi hay không? 
Ngoài ra, lãnh đạo CSVN cũng đã có những khuất tất khi mở cửa cho Tàu cộng nhảy vào khai thác Bauxite trên Tây Nguyên và đứng sau lưng Formosa Hà Tĩnh, mặc dù Formosa có gốc Đài Loan. 
Bằng chứng là trong báo cáo tháng 3 năm 2016, Bộ Công thương cho biết: “Dự án bauxite Nhân Cơ sẽ tiếp tục lỗ 4-5 năm nữa, thời gian thu hồi vốn phải kéo dài 11-12 năm, nên đề nghị Chính phủ hỗ trợ 4900 tỷ trong 10 năm (từ 2016-2025). Tuy nhiên số tiền hỗ trợ được tính theo giá điện, nên có thể sẽ phải lên tới 1,2 tỷ USD.”
Trong khi đó: “Tính đến tháng 9 năm 2016, sau 3 năm hoạt động, Tổ hợp Bauxite- Nhôm Lâm Đồng đã thua lỗ 3.696 tỉ đồng. Trong đó, lỗ do hoạt động sản xuất, kinh doanh là 2.520 tỉ đồng, lỗ do chênh lệch tỉ giá khoảng 1.176 tỉ đồng. Mức lỗ này đã vượt xa so với mức lỗ dự kiến theo kế hoạch là 1.660 tỉ đồng.”
Tại Formosa Hà Tĩnh, tiền thu vào bao nhiêu chưa thấy, chỉ biết công ty này, có Bắc Kinh chống lưng, vẫn là quả bom nổ chậm của môi trường miền Trung. Công ty này đã gây ra thảm họa cá chết năm 2016 mà đến nay (06/2018) an toàn nước biển và tác hại lâu dài của thảm trạng này vẫn còn là mối lo ngại hàng đầu của hàng triệu người dân vùng nghèo khó này. 
Vì vậy, trước những phản ứng quyết liệt của dân và nhiều Đại biểu Quốc hội về Đặc khu, Bộ Chính trị đảng CSVN đã buộc phải họp khẩn cấp đến 3 giờ sáng ngày 10/6/2018 để quyết định lùi thời gian thảo luận và biểu quyết Dự luật Đặc Khu đến Kỳ họp 6, tháng 10 năm 2018 để nghiên cứu thêm, thay vì ngày 15/06/2018 như dự trù.
Chính phủ và Quốc Hội cũng đồng ý “không quy định trường hợp đặc biệt kéo dài không đến 99 năm.” 
Như vậy là người dân đã thắng keo đầu, nhưng chưa phải sẽ không có chống đối nữa vì trong Dự thảo còn dành quá nhiều ưu đãi về thuế quan và quyền sở hữu đất, nhà ở và bãi, biển cho Công ty hay người đầu tư nước ngoài.
Hơn nữa, vì đã nhìn thấy tình trạng người Tàu đang công khai lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam qua mánh lới đem công nhân vào làm việc của các công ty người Tàu trên khắp lãnh thổ mà người dân càng cảnh giác hơn với Dự luật Đặc khu, ấy là chưa kể thảm trạng làm ô nhiễm môi trường và không gian mà các Công ty Tàu đã gây ra cho Việt Nam trong nhiều năm qua. Điển hình như trường hợp Formosa Hà Tĩnh đã gây ra cho 4 tỉnh miền Trung gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Huế – Thừa Thiên năm 2016.
Tại sao lại vũ khí – chất nổ?
Nhưng đáng quan tâm hơn trong Luật Đặc khu là những chi tiết ghi trong Phụ lục 4 quy định “Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại đặc khu”.
Dự luật cho phép: “Kinh doanh quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng.” 
Ngoài ra, Dự luật còn mở cửa cho:
– Kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp (bao gồm cả hoạt động tiêu hủy);
– Kinh doanh tiền chất thuốc nổ;
– Kinh doanh ngành, nghề có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ;
– Kinh doanh dịch vụ nổ mìn;
– Kinh doanh các thiết bị gây nhiễu, phá sóng thông tin di động; 
– Kinh doanh dịch vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước;
– Kinh doanh dịch vụ vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại.
Cũng tại 3 Đặc khu, ngoài cho kinh doanh sòng bài (casino) và các trung tâm ăn chơi, giải trí, Dự luật còn cho phép: “Kinh doanh sân bay, cảng biển; Kinh doanh vận tải đường bộ; Kinh doanh vận tải hàng không; Kinh doanh dịch vụ thiết kế, sản xuất, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị tàu bay tại Việt Nam.”
Người nước ngoài cũng có quyền: “Kinh doanh cảng hàng không, sân bay; Kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay; Kinh doanh dịch vụ bảo đảm hoạt động bay; Kinh doanh vận tải đường sắt – Kinh doanh đường sắt đô thị; Kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng nguy hiểm…”
Cũng trong danh sách cho phép, người đầu từ còn được kinh doanh cả trong lĩnh vực truyền thông như Phát thanh, Truyền hình và Xuất bản.
Như vậy là người nước ngoài cứ việc ra, vào các Đặc khu tự do, được quyền làm chủ đất đai, nhà ở và kinh doanh thả giàn mọi thứ, kể cả vũ khí, quân trang và quân dụng ngay trên đất nước Việt Nam. Kẻ chịu trách nhiệm vẽ ra Luật, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, có bao giờ nghĩ rằng, nếu không biết “kín cửa cao tường” thì đến một ngày đẹp trời nào đó, có gì bảo đảm cả 3 Đặc không biến thành Mật khu của người nước ngoài, hay người Tàu phương bắc?
Bịt miệng mãi được không?
Bên cạnh chuyện Đặc khu, người dân biểu tình hôm 10/06/2018 còn lên án Luật An ninh mạng mà vào ngày 12/06 (2018) Quốc hội đã biểu quyết chấp thuận với đa số.
Báo chí Việt Nam đưa tin: “Theo kết quả kiểm phiếu, 423/466 đại biểu có mặt ở hội trường (chiếm 86, 86% tổng số đại biểu) tán thành thông qua Luật An ninh mạng. Có 15 đại biểu không tán thành (chiếm 3, 08%) và 28 đại biểu không biểu quyết (chiếm 5, 75%).”
Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, ông Dương Trung Quốc xác nhận ông là một trong số 15 người bỏ phiếu không tán thành Luật An ninh mạng. Ông nói với báo VnExpress ở Hà Nội: “Tôi là một trong 15 người bỏ phiếu không tán thành thông qua dự thảo Luật An ninh mạng. Vì sao như vậy? Trước hết, tôi hoan nghênh có Luật để đảm bảo an ninh trên môi trường mạng, đặc biệt là vấn đề an ninh quốc gia trong thời đại công nghệ phát triển, mạng đã trở thành không gian cuộc sống hiện đại. Nhưng qua nghiên cứu, tôi nhận thấy dự thảo Luật chưa đáp ứng được như mong muốn và yêu cầu đặt ra… Mạng là môi trường toàn cầu và chúng ta đang thừa hưởng thành quả công nghệ của nhân loại. Việc quản lý và làm luật phải làm sao để phù hợp thực tiễn, để người dân được hưởng thành tựu đó, bởi nội dung này gắn với các quyền rất quan trọng của công dân đã được quy định bởi Hiến pháp.” (VnExpress, 13/06/2018)
Quan điểm của ông Quốc cũng rất sát với suy nghĩ của nhiều người dân, trong đó có rất nhiều chuyên gia và trí thức, đã phản ảnh trong các nội dung bích chương và biểu ngữ phản đối Luật này trong cuộc biểu tình ngày 10/06/2018. 
Tại sao? Bởi vì nội dung Luật gồm 7 Chương, 43 Điều đã tiêu diệt quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận của người dân. Và vì vậy, đã chống lại Điều 25 của Hiến pháp, theo đó: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”
Luật đã có những quy định mơ hồ để cấm cản và quy chụp công dân mà không cần chứng minh hay giải thích, như viết trong Điều 16 của luật này bao gồm: 
a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; 
b) Chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chia rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước; 
c) Xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc; 
2. Thông tin trên không gian mạng có nội dung kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng bao gồm: 
a) Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, tiến hành hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực nhằm chống chính quyền nhân dân; 
b) Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức gây mất ổn định về an ninh, trật tự. 
3. Thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm: 
a) Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; 
b) Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. 
4. Thông tin trên không gian mạng có nội dung xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao gồm: 
a) Thông tin bịa đặt, sai sự thật về sản phẩm, hàng hóa, tiền, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc và các loại giấy tờ có giá khác; 
b) Thông tin bịa đặt, sai sự thật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, chứng khoán. 
5. Thông tin trên không gian mạng có nội dung sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Ngoài ra, Điều 17 còn nghiêm cấm: “Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; 
Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ.”
Nội dung trên đây đã cho phép nhà nước toàn quyền tùy tiện đàn áp dân theo ý muốn của mình, trong khi quyền phải được giải thích luật và đòi nhà nước phải tôn trọng Hiến Pháp của công dân lại không được bảo vệ.
Quyền lên tiếng phê bình của dân đối với chính sách của nhà nước cũng bị kiểm soát và dân cũng dễ dàng bị khép tội mạ lỵ hay vu khống nếu đụng tới một viên chức nhà nước.
Google, Facebook 
Ngoài ra, theo Điều 26 về “Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng” Luật đã quy định: “Doanh nghiệp trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm sau đây: 
a) Xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng; 
b) Ngăn chặn việc chia sẻ thông tin, xóa bỏ thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này trên dịch vụ hoặc hệ thống thông tin do cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông và lưu nhật ký hệ thống để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng trong thời gian theo quy định của Chính phủ; 
c) Không cung cấp hoặc ngừng cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng cho tổ chức, cá nhân đăng tải trên không gian mạng thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông. 
3. Doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. 
Doanh nghiệp nước ngoài quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.
Như vậy, với luật mới, các cơ quan phụ trách an ninh mạng của hai Bộ Công an và Quốc phòng có quyền kiểm tra, truy nhập và kiềm soát các tài khoản cá nhân với lý do an ninh quốc gia và an toàn xã hội để đàn áp người sử dụng Internet bất cứ lúc nào. 
Theo tin trong nước thì: “Việt Nam xếp thứ 7 trong danh sách 10 quốc gia có người dùng Facebook đông nhất thế giới với 64 triệu người dùng, chiếm 3% tổng số người dùng toàn cầu. Những con số này cho thấy sự phổ biến của mạng Facebook trong xã hội Việt Nam, đặc biệt, có tới hơn 60% người sử dụng thuộc lứa tuổi thanh, thiếu niên – thế hệ quyết định tương lai của đất nước. 
Trong khi đó, Google gần như trở thành công cụ tìm kiếm mà toàn bộ dân số trên toàn thế giới đều sử dụng, không chỉ riêng tại Việt Nam. Theo ước tính, Google và Facebook đang sở hữu hơn 60% doanh thu quảng cáo điện tử toàn cầu.” (theo báo Dân Trí, ngày 13/06/2018). 
Như vậy điều mà nhiều người trong nước quan ngại là nếu Google hay Facebook chấm dứt quan hệ với Việt Nam vì bị kiểm soát, sau khi Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, thì Tàu cộng sẽ nhảy vào Việt Nam ngay lập tức bởi vì Việt Nam chưa có khả năng thay thế Google hay Facebook.
Và nếu chẳng may, hay đảng CSVN cố ý tạo cơ hội cho Tàu cộng nhảy vào thị trường Việt Nam qua Luật An ninh mạng thì chuyện 3 Đặc khu kinh tế sẽ biến thành 3 Mật khu cũng chỉ trong nháy mắt. 
14.06.2018
Phạm Trần
https://www.baocalitoday.com/doc-bao-ban/dac-khu-hay-mat-khu.html