Thứ Tư, 14 tháng 3, 2018

Báo cáo giải mật của CIA về Trường Sa 1988: TQ triển khai hải quân với quy mô chưa từng thấy


Tài liệu của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã ghi nhận đợt triển khai lực lượng hải quân với quy mô chưa từng thấy của Trung Quốc tới quần đảo Trường Sa.

30 năm trước, ngày 14/3/1988, trước họng súng của lính Trung Quốc, 64 chiến sĩ - những người con đất Việt đã anh dũng hy sinh trong trận chiến bảo vệ chủ quyền.
Nhằm mang lại cái nhìn toàn cảnh hơn về sự kiện Trường Sa 1988, tòa soạn xin gửi tới quý độc giả bản báo cáo đã được giải mật của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) ngày 8/8/1988, trong đó đề cập tới các toan tính của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa trước và sau sự kiện.
Dưới đây là trích lược nội dung bản báo cáo.
---
Trung Quốc đã tính toán 
Theo quan điểm của chúng tôi [CIA], bằng cách biến vấn đề Trường Sa thành vấn đề riêng giữa Trung Quốc và Việt Nam, Bắc Kinh đã thành công trong việc hạn chế các hậu quả chính trị mà họ có thể phải hứng chịu khi xâm lấn quần đảo này.
Chẳng hạn, truyền thông Trung Quốc liên tục đổ lỗi cho Việt Nam về những căng thẳng trên quần đảo Trường Sa. Đồng thời, thông qua các hoạt động ngoại giao tại Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc đã tìm cách củng cố luận điểm trên của mình.
Có lẽ Bắc Kinh đã toan tính ngay từ đầu rằng chiến lược này có thể giúp kiềm chế phản ứng bất lợi trong khu vực đối với họ và cô lập Việt Nam. Bắc Kinh cam kết hành động của mình hoàn toàn không nhằm vào 3 nước và vùng lãnh thổ khác trong khu vực, gồm Philippines, Malaysia và Đài Loan.
Báo cáo giải mật của CIA về Trường Sa 1988: TQ triển khai hải quân với quy mô chưa từng thấy - Ảnh 1.
Những bức ảnh này được đăng trên Hoàn Cầu thời báo và một số báo Trung Quốc, cho thấy lính và vũ khí Trung Quốc đã được triển khai đến Trường Sa năm 1988 để thực hiện việc cưỡng chiếm trái phép đảo của Việt Nam.
Hoạt động quân sự của Trung Quốc trong khu vực từ lâu đã cho thấy rõ một điều - Việt Nam là mối lo ngại chính của Bắc Kinh:
- Binh lính Trung Quốc chiếm giữ các bãi đá ngầm và tàu chiến Trung Quốc chủ yếu tuần tra gần các đảo do Việt Nam kiểm soát trên quần đảo Trường Sa. Chúng hiếm khi tiếp cận các đảo do Philippines, Malaysia và Đài Loan chiếm đóng.
- Nhiều nguồn tin cho biết trong giai đoạn từ tháng 2 - tháng 4/1988, các tàu chiến Trung Quốc đã ít nhất 3 lần quấy rối tàu tiếp tế của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa, trong khi không hề cản trở các hoạt động tiếp tế của Malaysia và Đài Loan.
Theo đánh giá của chúng tôi, việc Trung Quốc tiến hành các hoạt động hải quân ở Biển Đông, cũng như xây dựng các căn cứ thường trực tại Trường Sa đều nằm trong chiến lược dài hạn của Bắc Kinh nhằm tái khẳng định chủ quyền mà họ đơn phương tuyên bố, đồng thời buộc các bên liên quan khác phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình hoặc buộc phải nhượng bộ đàm phán theo hướng có lợi cho Trung Quốc.
Có lẽ Trung Quốc quyết định hành động vào mùa xuân năm 1988 một phần bởi họ nhận ra rằng, cộng đồng quốc tế đang bắt đầu dồn sự chú ý vào việc tìm ra giải pháp bình ổn tình hình Campuchia. Mặt khác, Bắc Kinh muốn củng cố tuyên bố chủ quyền của họ đối với quần đảo Trường Sa trước khi căng thẳng giữa khối ASEAN với Việt Nam dịu đi.
Báo cáo giải mật của CIA về Trường Sa 1988: TQ triển khai hải quân với quy mô chưa từng thấy - Ảnh 2.
Trung Quốc cho xuồng máy chuyển từng tốp lính đặc nhiệm lên Gạc Ma trước trận hải chiến năm 1988. Ảnh: Hoàn Cầu
Trung Quốc "khoe cơ bắp" hải quân với quy mô chưa từng thấy
Đợt triển khai lực lượng hải quân với quy mô chưa từng thấy của Trung Quốc tới quần đảo Trường Sa cho thấy hải quân Trung Quốc đã phát triển thành một lực lượng có khả năng triển khai và duy trì sức mạnh bên ngoài các vùng ven biển.
Với thời hạn 6 tháng, đây là đợt triển khai có phạm vi rộng lớn nhất mà Hải quân Trung Quốc từng tiến hành, huy động 40 tàu từ cả 3 hạm đội.
Hạm đội Nam Hải đã chứng tỏ mình là lực lượng có mức độ sẵn sàng chiến đấu cao nhất trong Hải quân Trung Quốc, như có thể thực hiện toàn bộ chiến dịch được giao phó một cách hiệu quả và điều động luân phiên tàu chiến để đảm bảo tất cả các tàu cỡ lớn trong hạm đội đều nắm rõ nhiệm vụ của mình trên quần đảo Trường Sa.
Kinh nghiệm hoạt động và kiến thức thực tiễn tích lũy được về quần đảo Trường Sa sẽ trở nên vô cùng giá trị đối với các nhà hoạch định quân sự Trung Quốc nếu Bắc Kinh quyết định theo đuổi một chính sách hung hăng hơn nhằm vào các đảo do Việt Nam kiểm soát.
Tới cuối tháng 7/1988, Trung Quốc đã hoàn tất công trình xây dựng trên Đá Chữ Thập và 5 bãi đá ngầm khác thuộc quần đảo Trường Sa.
Theo đánh giá của chúng tôi, căn cứ hải quân thường trực tại Đá Chữ Thập đã tăng cường đáng kể khả năng triển khai lực lượng của Bắc Kinh trong khu vực:
- Căn cứ trên Đá Chữ Thập có thể đồn trú binh lính, dự trữ quân nhu, có chỗ neo đậu cho tàu tiếp tế.
- Các tàu tuần tra và trực thăng đóng quân tại đó có thể giúp Trung Quốc canh gác các tiền đồn nhỏ hơn, giám sát hoạt động quân sự của Việt Nam và cung cấp tin tình báo quan trọng.
- Do nhu cầu tiếp tế cho các hoạt động hải quân ở đây thấp hơn nên Bắc Kinh có thể tập hợp một đội tàu nhanh chóng di chuyển về phía nam và tấn công Trường Sa trong khi để lộ rất ít dấu hiệu cảnh báo (thậm chí không để lộ).
Trong bối cảnh lực lượng trên Đá Chữ Thập đã sẵn sàng hoạt động, và các cơn bão theo mùa bắt đầu tràn vào quần đảo, Bắc Kinh bắt đầu giảm bớt các hoạt động hải quân ở Trường Sa.
Trung Quốc sử dụng vũ lực tấn công Hải quân Việt Nam ngày 14/3/1988
Sau khi tấn công Việt Nam một cách triệt để tại Gạc Ma ngày 14/3/1988, có lẽ Trung Quốc nhận thấy rằng từ bây giờ, hai phía khó lòng xảy ra một cuộc xung đột hải quân nào nữa.
Bắc Kinh cũng cho rằng, khó có khả năng Việt Nam tấn công các tiền đồn của Trung Quốc...
Hải quân Trung Quốc cũng tin rằng khả năng triển khai thần tốc tàu chiến tới Trường Sa có thể "răn đe" Việt Nam.
Chúng tôi cho rằng Trung Quốc có thể sẽ giảm thêm số lượng tàu chiến hoạt động xung quanh quần đảo Trường Sa bằng cách duy trì một số tàu chiến nhất định tại căn cứ trong thời gian dài hơn trước đây để giảm thiểu chi phí hoạt động.
Phản ứng của Việt Nam
Việt Nam đã đáp trả mạnh mẽ thách thức từ Trung Quốc bằng các động thái quân sự và chính trị, khiến Bắc Kinh bị choáng ngợp.
Các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam có vẻ nhằm gây áp lực, buộc Trung Quốc giải quyết tranh chấp giữa hai phía một cách hòa bình, thông qua các cuộc đàm phán.
Truyền thông Việt Nam chỉ trích Trung Quốc là một thế lực hung hăng, và là mối đe dọa đối với nền hòa bình - ổn định trong khu vực, đồng thời nhiều lần thúc giục Bắc Kinh hãy sử dụng giải pháp ngoại giao để giải quyết vấn đề chủ quyền.
Việt Nam đã nêu ra vấn đề Trường Sa tại Liên Hiệp Quốc nhằm kêu gọi sự giúp đỡ, buộc Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán...
Việt Nam cũng tìm kiếm sự hỗ trợ trong khu vực để có thể đi đến một giải pháp hòa bình cho vấn đề Trường Sa...
Mặc dù chủ trương giải pháp hòa bình nhưng có lẽ Việt Nam nhận ra rằng điều đó khó có khả năng đạt được trong bối cảnh hiện tại [năm 1988].
Trước ưu thế hải quân của Trung Quốc, căn cứ thường trực của nước này tại Trường Sa, cũng như lời đe dọa của Bắc Kinh là tái chiếm quần đảo Trường Sa vào thời điểm thích hợp, Việt Nam đã thận trọng chuẩn bị cho một cuộc chiến tiếp theo (nếu nổ ra).
Các hoạt động chuẩn bị tăng cường của Việt Nam bao gồm:
- Bố trí binh lính và vũ khí trên các bãi đá ngầm, củng cố phòng thủ tại các căn cứ đã có...
- Thiết lập một sở chỉ huy tiền phương tại vịnh Cam Ranh, điều động lính hải quân và các tàu tiếp tế, đặt lực lượng hải quân đánh bộ trong tình trạng báo động, tăng cường huấn luyện hải quân và đổ bộ.
- Phát triển khả năng tấn công tầm xa bằng cách triển khai máy bay ném bom tới Phan Rang và điều máy bay tiến hành các đợt tuần tra trên quần đảo Trường Sa.
Những hành động này đã tăng cường khả năng phòng thủ của Việt Nam và mang lại cho Việt Nam khả năng triển khai lực lượng hạn chế tại quần đảo Trường Sa.
Báo cáo giải mật của CIA về Trường Sa 1988: TQ triển khai hải quân với quy mô chưa từng thấy - Ảnh 4.
Chiến sĩ Trường Sa năm 1988. Ảnh tư liệu: Tiền Phong.
... Bằng cách huy động nguồn lực và đặt mình vào tình trạng chiến tranh (như thể chiến tranh đã nổ ra), Việt Nam có vẻ đang muốn cho Bắc Kinh thấy rằng Việt Nam sẽ bảo vệ lợi ích của mình ở Trường Sa, ngay cả khi đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột khác với Trung Quốc.
Có lẽ Việt Nam cho rằng bằng cách tăng cái giá mà Trung Quốc phải trả nếu xảy ra xung đột, Việt Nam có thể ngăn Bắc Kinh đưa ra lựa chọn quân sự để giải quyết vấn đề Trường Sa.
Bên cạnh đó, có vẻ Việt Nam tin rằng, nếu các tiền đồn trên quần đảo Trường Sa bị tấn công, các lực lượng tại đây vẫn đủ sức chiến đấu cho tới khi Bắc Kinh buộc phải ngừng lại vì các áp lực ngoại giao...
Gần như chắc chắn Việt Nam nhận thức được rằng, các căn cứ bị cô lập của họ vẫn có thể bị Trung Quốc phong tỏa bằng hải quân hoặc tấn công đổ bộ. Song đồng thời, Việt Nam có lẽ cũng suy tính rằng, bằng cách củng cố các tiền đồn và tăng cường yểm trợ đường không, Việt Nam có thể ngăn chặn Trung Quốc tiến hành một cuộc tấn công trực diện.
Mặc dù chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ duy trì thế phòng thủ nhưng vẫn không loại trừ khả năng Việt Nam sẽ tấn công đáp trả tàu chiến hoặc tiền đồn của Trung Quốc, nếu Trung Quốc tiếp tục các đợt tuần tra hải quân mang tính khiêu khích hoặc tìm cách chiếm giữ thêm các đảo trên quần đảo Trường Sa.
Lính đảo Trường Sa 1988. Nguồn: Tuổi Trẻ
Thái độ trung lập của Liên Xô
Theo đánh giá của chúng tôi, Trung Quốc có vẻ hài lòng khi Moscow giữ thái độ trung lập đối với vấn đề Trường Sa.
Tranh chấp này đã buộc Xô Viết phải "đi trên dây" khi một mặt cố duy trì mối quan hệ thân thiết với Việt Nam, một mặt tìm cách cải thiện quan hệ với Bắc Kinh.
Một nguồn tin Liên Xô cho biết, sự kiện Trường Sa đã khiến Liên Xô lâm vào thế khó. Liên Xô công khai ủng hộ nỗ lực kêu gọi đàm phán của Việt Nam để giải quyết tranh chấp nhưng Thứ trưởng Ngoại giao Liên xô Rogachev lại từ chối khi Việt Nam đề nghị Liên Xô cùng lên án hành động của Trung Quốc ở Trường Sa.
Căn cứ của Liên Xô tại vịnh Cam Ranh đã hỗ trợ hậu cần cho các tàu tiếp tế của Việt Nam di chuyển qua lại tới các đảo ở Trường Sa. Moscow cũng đẩy mạnh hỗ trợ quân sự và có thể đang giúp Hà Nội nâng cấp năng lực quân sự tại Trường Sa...
QS

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

Tại sao Vietnam Hosting một nhà cung cấp máy bay Mỹ?

Tại sao Vietnam Hosting một nhà cung cấp máy bay Mỹ?

Đó là gửi tin nhắn tới Trung Quốc - và Tổng thống Trump.
Tàu USS Carl Vinson  vào cảng Đà Nẵng  ngày 5 tháng 3 năm 2018. Ảnh: Getty Images.
Hoa Kỳ đang gửi một trong những tàu lớn nhất của tàu USS Carl Vinson đến Việt Nam trong tuần này. Đây sẽ là chiếc tàu sân bay đầu tiên đổ bộ vào đất nước kể từ khi chiến tranh kết thúc ở Việt Nam cách đây 40 năm.
Trong một số khía cạnh, đây là một sự kiện thông thường: các tàu chiến Mỹ khác đã ghé thăm cảng Việt Nam từ năm 2003. Nhưng đó cũng là thời điểm biểu tượng. Trước đây, chính phủ Việt Nam đã giữ các tàu sân bay trên đường cánh tay - các quan chức chỉ thăm viếng chúng ở xa bờ biển. Bằng cách chào đón tàu USS Carl Vinson vào bến cảng tại Đà Nẵng, thành phố thứ ba của nước này, và một trong những điểm đến gần quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp, Việt Nam rõ ràng đang gửi một số thông điệp mạnh mẽ.
Thông điệp rõ ràng nhất là một sự bùng nổ đối với các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Việt Nam đang báo hiệu rằng nước này có một người bạn mạnh mẽ và sẵn sàng theo đuổi mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với nó. Nhưng thông điệp này được đặc biệt cẩn thận. Việt Nam có chính sách "ba nos": không có đối với các căn cứ ở nước ngoài trên lãnh thổ của mình, không liên minh quân sự và không liên quan đến bên thứ ba trong các tranh chấp. Chúng ta không nên mong đợi vị trí này thay đổi. Việt Nam không phải là quốc gia có sự kiểm soát của Trung Quốc.
Nhưng chính phủ Việt Nam dường như đang sử dụng chuyến thăm của các nhà cung cấp dịch vụ cho các mục đích riêng của họ. Năm ngoái, Việt Nam đã cho phép công ty năng lượng của Tây Ban Nha Repsol khoan khí đốt ngoài khơi bờ biển phía đông nam của nước này. Đây là một động thái đáng ngạc nhiên, vì lãnh đạo biết rằng các đối tác Trung Quốc của họ chắc chắn sẽ phản đối. Trung Quốc thực sự đáp lại: đe doạ tấn công các đồn quân sự của Việt Nam được xây dựng trên Vanguard Bank, một mảnh đáy biển nông gần khu khoan. Thiếu sự hỗ trợ quốc tế, chính phủ Việt Nam đã từ chối và nói với Repsol để ngừng công việc.
Việt Nam vẫn có tham vọng khai thác các mỏ dầu khí ngoài khơi. Do đó, lãnh đạo của họ có thể hy vọng rằng chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson, và các tàu chiến hộ tống của nó, sẽ ngăn Trung Quốc lặp lại các mối đe dọa trước đó. Có thể là Việt Nam đã phối hợp hoạt động thăm dò với sự xuất hiện của người Mỹ.
Việt Nam cũng gửi một thông điệp tinh tế hơn và dài hạn hơn cho Trung Quốc. Cả hai quốc gia đều được cai trị bởi các đảng cộng sản có cùng quan điểm và chính sách. Bắc Kinh biết rằng Hà Nội sẽ không phá vỡ hoặc hạ cấp những mối liên hệ giữa các mối quan hệ này trừ khi có điều gì đó rất kịch tính xảy ra. Vào năm 2014, các mối quan hệ đã phải chịu đựng khi Trung Quốc gửi dầu để khoan các quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp. Việt Nam đã trả lời bằng cách cử các phái viên chính thức sang Hoa Kỳ để thảo luận và Trung Quốc từ chức.
Bằng cách hoan nghênh Hải quân Hoa Kỳ đến Đà Nẵng trong tuần này, Hà Nội cho thấy sự không hài lòng của họ đối với hoạt động gần đây của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa - các mối đe dọa quân sự đối với các căn cứ của Việt Nam và việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo khổng lồ ở quần đảo Trường Sa - và nhắc nhở Bắc Kinh rằng có thể làm thêm tiến tới hợp tác với Hoa Kỳ. Đó là áp lực đối với Trung Quốc để kiểm soát hành vi của mình.
Sự cởi mở đối với Hoa Kỳ có thể có vẻ là bất ngờ với những thay đổi chính trị gần đây ở Việt Nam. Năm 2014, con số mạnh nhất trong nước là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông theo đuổi một chính sách cởi mở thân thiện đối với Hoa Kỳ và ngầm khuyến khích Trung Quốc cảm thấy ở cơ sở. Tuy nhiên, vào tháng 1 năm 2016, ông bị tước quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng.
Kể từ đó Trọng đã theo đuổi một chiến dịch chống tham nhũng nhắm vào các đồng minh của ông Dũng. Một số đồng đội mạnh nhất của Dũng đã bị kết án tù lâu dài, và một số khác đã bị buộc phải từ chức. Sự thanh trừng các con số được coi là quá cá nhân, quá tham nhũng và quá thân Mỹ đã dẫn đến việc nhóm "những người trung thành" của Trọng nắm quyền kiểm soát ở đầu Đảng Cộng sản.
Trọng cũng đã bắt đầu một cuộc đàn áp các nhà bất đồng chính kiến ​​và những tiếng nói quan trọng khác. Các blogger đã bị phạt tù lâu dài, một luật mới điều chỉnh việc sử dụng Internet đã khiến cho các cuộc thảo luận trực tuyến và các nhà hoạt động xã hội bị đánh và quấy rối. Những lời chỉ trích quốc tế về cuộc đàn áp đã bị tắt tiếng. Một phần là kết quả của việc Việt Nam làm việc chăm chỉ để miêu tả chính mình như một người bạn của Hoa Kỳ và các đồng minh.
Bằng cách thể hiện sự hữu ích chiến lược của mình đối với Washington, Trọng cũng có thể hy vọng làm dịu áp lực từ thặng dư thương mại lớn của Việt Nam với Hoa Kỳ. Trong năm vừa qua, Việt Nam đã yêu cầu Tổng thống Donald Trump và chính quyền của ông ta ngăn chặn việc áp đặt các biện pháp bảo hộ đối với các ngành xuất khẩu của Việt Nam. Cho đến nay nó đã thành công.
Trọng và các đồng minh trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản đã được miêu tả là "thân Trung Quốc" nhưng bằng cách mời Hải quân Hoa Kỳ gọi họ là cho thấy Việt Nam vẫn có khả năng theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập. Bằng cách mời một tàu sân bay nói riêng, họ đã phá vỡ một điều cấm kị không chính thức về mức độ mà Việt Nam sẽ tham gia với Hoa Kỳ. Nhắn tin được đưa ra một cách thận trọng và được tính toán cùng với nhiều hướng đồng thời.
Associate Fellow, Chương trình Châu Á - Thái Bình Dương

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Tại sao Vietnam Hosting một nhà cung cấp máy bay Mỹ?

Tại sao Vietnam Hosting một nhà cung cấp máy bay Mỹ?

Đó là gửi tin nhắn tới Trung Quốc - và Tổng thống Trump.
Tàu USS Carl Vinson  vào cảng Đà Nẵng  ngày 5 tháng 3 năm 2018. Ảnh: Getty Images.
Hoa Kỳ đang gửi một trong những tàu lớn nhất của tàu USS Carl Vinson đến Việt Nam trong tuần này. Đây sẽ là chiếc tàu sân bay đầu tiên đổ bộ vào đất nước kể từ khi chiến tranh kết thúc ở Việt Nam cách đây 40 năm.
Trong một số khía cạnh, đây là một sự kiện thông thường: các tàu chiến Mỹ khác đã ghé thăm cảng Việt Nam từ năm 2003. Nhưng đó cũng là thời điểm biểu tượng. Trước đây, chính phủ Việt Nam đã giữ các tàu sân bay trên đường cánh tay - các quan chức chỉ thăm viếng chúng ở xa bờ biển. Bằng cách chào đón tàu USS Carl Vinson vào bến cảng tại Đà Nẵng, thành phố thứ ba của nước này, và một trong những điểm đến gần quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp, Việt Nam rõ ràng đang gửi một số thông điệp mạnh mẽ.
Thông điệp rõ ràng nhất là một sự bùng nổ đối với các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Việt Nam đang báo hiệu rằng nước này có một người bạn mạnh mẽ và sẵn sàng theo đuổi mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với nó. Nhưng thông điệp này được đặc biệt cẩn thận. Việt Nam có chính sách "ba nos": không có đối với các căn cứ ở nước ngoài trên lãnh thổ của mình, không liên minh quân sự và không liên quan đến bên thứ ba trong các tranh chấp. Chúng ta không nên mong đợi vị trí này thay đổi. Việt Nam không phải là quốc gia có sự kiểm soát của Trung Quốc.
Nhưng chính phủ Việt Nam dường như đang sử dụng chuyến thăm của các nhà cung cấp dịch vụ cho các mục đích riêng của họ. Năm ngoái, Việt Nam đã cho phép công ty năng lượng của Tây Ban Nha Repsol khoan khí đốt ngoài khơi bờ biển phía đông nam của nước này. Đây là một động thái đáng ngạc nhiên, vì lãnh đạo biết rằng các đối tác Trung Quốc của họ chắc chắn sẽ phản đối. Trung Quốc thực sự đáp lại: đe doạ tấn công các đồn quân sự của Việt Nam được xây dựng trên Vanguard Bank, một mảnh đáy biển nông gần khu khoan. Thiếu sự hỗ trợ quốc tế, chính phủ Việt Nam đã từ chối và nói với Repsol để ngừng công việc.
Việt Nam vẫn có tham vọng khai thác các mỏ dầu khí ngoài khơi. Do đó, lãnh đạo của họ có thể hy vọng rằng chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson, và các tàu chiến hộ tống của nó, sẽ ngăn Trung Quốc lặp lại các mối đe dọa trước đó. Có thể là Việt Nam đã phối hợp hoạt động thăm dò với sự xuất hiện của người Mỹ.
Việt Nam cũng gửi một thông điệp tinh tế hơn và dài hạn hơn cho Trung Quốc. Cả hai quốc gia đều được cai trị bởi các đảng cộng sản có cùng quan điểm và chính sách. Bắc Kinh biết rằng Hà Nội sẽ không phá vỡ hoặc hạ cấp những mối liên hệ giữa các mối quan hệ này trừ khi có điều gì đó rất kịch tính xảy ra. Vào năm 2014, các mối quan hệ đã phải chịu đựng khi Trung Quốc gửi dầu để khoan các quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp. Việt Nam đã trả lời bằng cách cử các phái viên chính thức sang Hoa Kỳ để thảo luận và Trung Quốc từ chức.
Bằng cách hoan nghênh Hải quân Hoa Kỳ đến Đà Nẵng trong tuần này, Hà Nội cho thấy sự không hài lòng của họ đối với hoạt động gần đây của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa - các mối đe dọa quân sự đối với các căn cứ của Việt Nam và việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo khổng lồ ở quần đảo Trường Sa - và nhắc nhở Bắc Kinh rằng có thể làm thêm tiến tới hợp tác với Hoa Kỳ. Đó là áp lực đối với Trung Quốc để kiểm soát hành vi của mình.
Sự cởi mở đối với Hoa Kỳ có thể có vẻ là bất ngờ với những thay đổi chính trị gần đây ở Việt Nam. Năm 2014, con số mạnh nhất trong nước là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông theo đuổi một chính sách cởi mở thân thiện đối với Hoa Kỳ và ngầm khuyến khích Trung Quốc cảm thấy ở cơ sở. Tuy nhiên, vào tháng 1 năm 2016, ông bị tước quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng.
Kể từ đó Trọng đã theo đuổi một chiến dịch chống tham nhũng nhắm vào các đồng minh của ông Dũng. Một số đồng đội mạnh nhất của Dũng đã bị kết án tù lâu dài, và một số khác đã bị buộc phải từ chức. Sự thanh trừng các con số được coi là quá cá nhân, quá tham nhũng và quá thân Mỹ đã dẫn đến việc nhóm "những người trung thành" của Trọng nắm quyền kiểm soát ở đầu Đảng Cộng sản.
Trong cũng đã bắt đầu một cuộc đàn áp các nhà bất đồng chính kiến ​​và những tiếng nói quan trọng khác. Các blogger đã bị phạt tù lâu dài, một luật mới điều chỉnh việc sử dụng Internet đã khiến cho các cuộc thảo luận trực tuyến và các nhà hoạt động xã hội bị đánh và quấy rối. Những lời chỉ trích quốc tế về cuộc đàn áp đã bị tắt tiếng. Một phần là kết quả của việc Việt Nam làm việc chăm chỉ để miêu tả chính mình như một người bạn của Hoa Kỳ và các đồng minh.
Bằng cách thể hiện sự hữu ích chiến lược của mình đối với Washington, Trọng cũng có thể hy vọng làm dịu áp lực từ thặng dư thương mại lớn của Việt Nam với Hoa Kỳ. Trong năm vừa qua, Việt Nam đã yêu cầu Tổng thống Donald Trump và chính quyền của ông ta ngăn chặn việc áp đặt các biện pháp bảo hộ đối với các ngành xuất khẩu của Việt Nam. Cho đến nay nó đã thành công.
Trong và các đồng minh trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản đã được miêu tả là "thân Trung Quốc" nhưng bằng cách mời Hải quân Hoa Kỳ gọi họ là cho thấy Việt Nam vẫn có khả năng theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập. Bằng cách mời một tàu sân bay nói riêng, họ đã phá vỡ một điều cấm kị không chính thức về mức độ mà Việt Nam sẽ tham gia với Hoa Kỳ. Nhắn tin được đưa ra một cách thận trọng và được tính toán cùng với nhiều hướng đồng thời.
Associate Fellow, Chương trình Châu Á - Thái Bình Dương

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2018


VNCH: Tài liệu về nền giáo dục VN: Đi học và Đi dạy


Khủng Bố của MTGPMN Mỹ Linh tức Lê Thị Thu Nguyệt  http://chauxuannguyen.org/2014/04/11/dang-sau-nhung-tam-huan-chuong-cua-nu-du-kich-my-linh-tuc-le-thi-thu-nguyet/ Khủng Bố của MTGPMN Mỹ Linh tức Lê Thị Thu Nguyệt
“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc trôi đi, thì lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường…
… Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học…”
Ở Miền Nam, chắc hẳn những người ngày nay đã ngoài 60 không thể nào quên đoạn văn trên của Thanh Tịnh [1] trong truyện ngắn Tôi Đi Học, rút từ tập Quê Mẹ, viết năm 1941. Đó là “bài văn mẫu” của môn Việt văn mà tất cả học sinh trung học đều phải học thuộc nằm lòng và đó cũng là những cảm xúc của một cậu bé lần đầu được mẹ dẫn đến trường làng:
“Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ… Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ…”
Ngày xưa, hiệu trưởng được gọi bằng tên “Ông Đốc”. Ông Đốc trường Mỹ Lý đọc tên những học trò “lính mới tò te” và Thanh Tịnh cảm thấy như “quả tim ngừng đập” khi tên mình được đọc lên để xếp hàng vào lớp. Ông Đốc nhắn nhủ học trò mới:
“Thế là các em đã vào Lớp Năm [ngày
nay là Lớp Một]. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa?… Thôi, các em đứng sắp hàng để vào lớp học.”
Quả thật đám học trò mới nghe rất rõ nhưng chẳng đứa nào dám mạnh dạn trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ ran của phụ huynh đáp lại… Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc và cậu bé Thanh Tịnh bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ, nức nở khóc theo, đâu đó cũng có tiếng thút thít…
198+1+thanhtinhtbbuttich.jpg
Thủ bút của Thanh Tịnh
Kể cũng buồn cười. Khi ra chào đời mọi người đều cất tiếng khóc và rồi lại có những người cất tiếng khóc… chào lớp, chào trường trong khung cảnh trang nghiêm của ngày đầu đi học. Và thế là kể từ lúc đó bắt đầu một chuỗi ngày dài đằng đẵng để làm học sinh mà người đời vẫn gán cho một cái tội… “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”.
Quả thật, đứng hàng thứ ba sau quỷ và ma là điều mà những học trò nghịch ngợm nhất cũng cảm thấy sự ví von là… quá đáng. Còn đối với những học trò ngoan ngoãn thì sự ví von này đúng là… bất công.
Có chê thì cũng phải có khen. Có một bài hát mà học trò ở Miền Nam ngày xưa đều thuộc nằm lòng, đó là bài Học sinh hành khúc (nghe tại: http://mp3.zing.vn/bai-hat/Hoc-sinh-hanh-khuc-Nhieu-ca-si/IWZC8I09.html). Nhạc sĩ Lê Thương ca tụng học sinh hết lời với những câu mở đầu không thể nào hay hơn:
Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau. 
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao.
Lúc khắp quốc dân tranh đấu hy sinh cho nền độc lập.
Học sinh nề chi tuổi xanh trong lúc phấn đấu.
Đem hết can tràng của người Việt Nam tiến lên!
Khi cất tiếng hát bài hành khúc, có học trò nào mà không tự hào khi được gắn liền với những lý tưởng cao đẹp như tổ quốc, độc lập… rồi tới điệp khúc lại vinh danh học sinh bằng những hình ảnh như “mầm sống của ngày mai”, “nối chí lớn”, “sống vì giống nòi” và “liều thân vì nước, vì dân”…
Học sinh là mầm sống của ngày mai.
Nung đúc tâm hồn để nối chí lớn.
Theo các thanh niên sống vì giống nòi.
Liều thân vì nước, vì dân mà thôi.
198+2+H%E1%BB%8Dc+sinh+h%C3%A0nh+kh%C3%BAc.jpg
“Học sinh Hành khúc” của Lê Thương
Biết bao thế hệ học sinh đã hăng say cất tiếng hát Học sinh Hành khúc từ cuối thập niên 50 để quên đi cảnh lớp học của thầy đồ với lũ học trò nằm bò trên phản hay trên chiếu để học viết chữ Nho của thánh hiền khiến Trần Tế Xương đã phải thốt lên:
“Thầy đồ thầy đạc, dạy học dạy hành
Vài quyển sách nát, ba thằng trẻ ranh”
Hồi đó còn chưa có lối so sánh “nhất quỷ, nhì ma…” nên thầy đồ Cao Bá Quát đã ví học trò là thứ “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”, một lối “tả chân” đầy hình tượng:
“Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”
Học trò ngày xưa khi bắt đầu đi học với thầy đồ là bắt đầu ê a Tam Tự Kinh, mỗi câu chỉ có 3 chữ được viết theo vần điệu, khởi đầu là “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” (con người sinh ra, bản tính vốn thiện lành) được dân gian “chế” thành… “Nhân chi sơ, xờ tí mẹ”!
Học hết Tam Tự Kinh là có số vốn hơn 1000 chữ Hán để tiếp tục học lên cao. Tam Tự Kinh còn dạy đạo lý làm người như “Ngọc bất trác, bất thành khí; Nhân bất học, bất tri lý” (Ngọc không mài không thành đồ quý; Người không học không biết đạo lý).
Có thể nói, Tam Tự Kinh là một trong những cuốn sách giáo khoa duy nhất cho người học chữ Nho bao gồm các môm đạo đức, sử ký, vạn vật mà học sinh các thế hệ chữ quốc ngữ học tại trường lớp được tổ chức có quy củ sau này phải dùng nhiều sách theo kiểu Tây học.
198+3+L%E1%BB%9Bp+h%E1%BB%8Dc+ng%C3%A0y+x%C6%B0a.jpg
Lớp học của thầy đồ xưa
Thầy đồ thường là những “tú tài lạc đệ” hay nói khác đi là những người thất bại trong thi cử nên về “ở ẩn” mở lớp dạy học. Đọc Lều Chõng của Ngô Tất Tố người ta mới thấy con đường làm quan ngày càng thu hẹp và con đường làm thầy đồ ngày càng mở rộng. Ngô Tất Tố viết:
“Ngày nay nghe đến hai tiếng “Lều”, “Chõng” có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những vật ấy từ biệt chúng ta mà đi đến chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, “Lều” “Chõng” vẫn làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta vẫn khoe là “bốn nghìn năm văn hiến”. Những ông ngồi trong miếu đường làm rường làm cột cho nước nhà, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám lều chõng mà ra.
Lều Chõng với nước Việt Nam không khác một ông tạo vật, đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hoặc vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa, rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong. Vì nó, nước Việt Nam trong một thời kì rất dài đã phát hiện ra nhiều cảnh tượng kỳ quái, có thể khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp”.
198+4+Th%E1%BA%A7y+%C4%91%E1%BB%93.jpg
Chân dung một thầy đồ
Phải nói chữ nghĩa tiếng Việt đã may mắn chọn con đường “La Tinh Hóa”, một phương tiện tiếp cận với văn minh Âu Mỹ dễ dàng hơn so với chữ Hán và chữ Nôm. Nước ta sau một thời gian dài Bắc Thuộc với cách viết tượng thanh, tượng hình, chỉ sự, hội ý… qua hơn 200 bộ chữ đã thực hiện được một cuộc chuyển hướng ngoạn mục theo mẫu tự La Tinh.
Hồi còn trong trại cải tạo tôi đã có một thời gian học viết chữ Nho với “thầy đồ” là một anh bạn người Việt gốc Hoa, đổi lại tôi “kèm” Anh văn cho anh, thế là cả hai bên “cùng có lợi”. Thay vì bút lông, chúng tôi dùng que viết lên mặt đất và cứ như thế vốn Hán văn của tôi lên đến… cả trăm chữ!
Kinh nghiệm bản thân cho thấy “ở tù” là thời gian tốt nhất để học hỏi từ các bạn đồng cảnh ngộ. Việc học trong giai đoạn “chẳng đặng đừng” này khiến ta khám phá được nhiều điều mới lạ mà ngoài đời thường sẽ chẳng bao giờ học được. Bản thân việc tìm tự do trong hoàn cảnh “mất tự do” cũng là một bài học mà ít người chú ý đến.
Làng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống khai thác mảng thầy đồ qua những bức tranh vui, điển hình là bức “Lão oa giang độc” (Thầy đồ cóc) vẽ một lớp học này xưa với “thầy đồ cóc” ngồi trên sập gụ, phía dưới là cả một bầy cóc nhái, con thì đứng khúm núm trả bài cho thầy, con thì bưng nước cho thầy giải lao.
Góc trên phía bên phải có cóc “trưởng tràng” hay “giảng tràng” là những “trợ lý” của thầy đồ đang giảng bài cho những học trò mới. Góc dưới phía bên phải là cảnh một chú nhái lười học đang bị đánh đòn bằng roi mây.
Bức tranh “cóc nhái” nói lên cảnh nền Nho học đang bước vào thời kỳ suy thoái, đó là giai đoạn chuyển tiếp trước khi có chữ quốc ngữ. Đó cũng là thời kỳ “đổi bút lông sang bút chì” hay còn được gọi là “bỏ Nho học sang Tây học”.
198+5+Th%E1%BA%A7y+%C4%91%E1%BB%93+c%C3%B3c.jpg
Thầy đồ cóc và lũ học trò
Bắt đầu từ năm 1917 chính quyền thuộc địa của người Pháp đã áp dụng một hệ thống giáo dục thống nhất trên toàn cõi Đông Dương, gồm 3 miền Bắc, Trung, Nam và hai nước lân cận là Lào và Cao Miên. Hệ thống giáo dục này có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục bản xứ, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ.
Tại Miền Bắc, nổi tiếng trong thời Pháp thuộc là trường Bưởi một cái tên mà học sinh thời đó hay dùng để tránh gọi cái tên do người Pháp đặt ra từ năm 1908: Collège du Protectorat (Trường Thành chung Bảo hộ). Năm 1931, trường được nâng cấp thành một Lycée (tương đương trường cấp III hiện nay): Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ). Trường được xây dựng trên đất làng Thụy Khuê ở vùng Kẻ Bưởi, ven hồ Tây, nên người dân vẫn gọi là trường Bưởi.
Bắc Kỳ khi đó chỉ có trường Bưởi là trường dành cho học sinh người Việt, mỗi năm chỉ có 120 chỗ cho học sinh mới khiến ngôi trường này đã trở thành cái nôi của lớp trí thức Bắc Hà. Ngoài ra, Hà Nội còn có Lycée Albert Sarraut chỉ dành cho học sinh người Pháp, họ lấy rất ít học sinh Việt.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn [2], Bộ Trưởng Giáo dục-Mỹ thuật trong nội các Trần Trọng Kim đã ký nghị định xóa bỏ tên Collège du Protectorat, thay bằng tên mới là Quốc lập Trung học hiệu Chu văn An (Trường Trung học Chu Văn An) và cử giáo sư Nguyễn Gia Tường làm Hiệu trưởng. Ông là Hiệu trưởng người Việt đầu tiên của Trường Bưởi.
Cùng với việc đổi tên trường, ông Hoàng Xuân Hãn còn quy định việc học và thi Tú Tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong trường học khi “Đế quốc Việt Nam” của chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố độc lập vào ngày 17/4/1945. Chương trình giáo dục của Việt Nam, còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn, được đem ra áp dụng tại Trung kỳ và Bắc kỳ.
198+6+Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+B%C6%B0%E1%BB%9Fi+%28tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+B%E1%BA%A3o+h%E1%BB%99+%E2%80%93+Lyc%C3%A9e+du+Protectorat%29.jpg
Trường Bưởi (Trường Bảo hộ – Lycée du Protectorat)
Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình giáo dục Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Collège Chasseloup-Laubat (tên của Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại, còn gọi là Bộ thuộc địa) là trường trung học đầu tiên ở Sài Gòn. Trường được thành lập từ năm 1874, dạy học sinh từ tiểu học đến hết trung học theo chương trình Pháp.
Trường được chia thành 2 khu vực: Khu dành riêng cho học trò người Pháp (Quartier Européen) và Khu bản xứ (Quartier Indigène). Ðến năm 1958, trường đổi tên là Lycée Jean-Jacques Rousseau, tên một nhà trí thức Pháp trong phong trào “Ánh Sáng” thế kỷ 18. Sau năm 1975, trường lại được đổi tên thành Trường Phổ thông Trung học Lê Quý Đôn.
C%E1%BB%95ng+tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+Chasseloup+Laubat.jpg
Collège Chasseloup-Laubat
Nhớ lại thời điêu linh sau khi đi học tập cải tạo về, tôi có một thời gian bươn chải đủ nghề từ “lao động phổ thông” chuyên ngồi đập gạch, lên đến chân bán hàng cho bà chị họ tại Chợ Lớn Mới rồi đi bỏ mối lò dầu hôi đúng vào thời kỳ “Đổi Mới”.
Cũng may, chính quyền mới “cho phép” một số cựu giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội được dạy Anh văn qua hình thức “cộng tác” với Trung tâm Nghiên cứu & Dịch thuật. Trung tâm này mở nhiều lớp đêm tại các trường lớn trong thành phố, trong đó có trường Lê Quý Đôn mà tiền thân là Collège Chasseloup-Laubat.
Phải nói đây là ngôi trường khang trang nhất Sài Gòn với những gốc cây cổ thụ có hàng trăm năm tuổi, có mái ngói rêu phong, có tường sơn màu vàng với kiến trúc hoàn toàn theo phong cách Pháp.
Giờ nghỉ giải lao tôi lại có dịp ghé “giang sơn” của ca sĩ Duy Trác và vợ đứng… bán nước. Tôi không uống nước nhưng dành 10 phút giải lao quý giá đó để cùng Duy Trác nhắc lại những giai đoạn thấm thía của thời điêu linh.
Cũng may nhờ chỗ quen biết qua tình “đồng nghiệp”, dù chỉ dạy lớp đêm, tôi còn xin cho hai đứa con gái được vào học Lê Quý Đôn. Đây là một ngôi trường hầu như chỉ dành riêng cho con em của những người có chức, có quyền…
198+7+Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+L%C3%AA+Qu%C3%BD+%C4%90%C3%B4n+ng%C3%A0y+nay.jpg
Trường Lê Quý Đôn ngày nay
Kể từ năm 1954, hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh đã chia nền giáo dục Việt Nam thành hai hệ thống trái ngược nhau qua việc hình thành hai thể chế: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại Miền Nam. Hai nền giáo dục này trong suốt 20 năm đã đào những tầng lớp thanh niên theo đúng hướng mà các chính phủ đã đề ra.
Điều rõ nét nhất là nền giáo dục VNDCCH tại Miền Bắc có định hướng chính trị và giáo dục được xem là một thành phần phục vụ quan điểm của nhà nước. Trong khi đó, tại Miền Nam, giáo dục được xây dựng trên ba nguyên tắc: nhân bản, dân tộc và khai phóng theo tinh thần của Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn vào năm 1958.
Tại Miền Bắc, trong những thập niên 1940 và 1950 là phải xóa nạn mù chữ với sự đóng góp của Nha Bình dân Học vụ. Về hình thức, hệ thống giáo dục của Trung Quốc và Liên Xô được dùng làm mẫu với sự giúp đỡ của các cố vấn Liên Xô.
Từ năm 1950, hai bậc tiểu học và trung học được quy định lại với tổng cộng có 9 lớp: tiểu học (cấp I), 4 năm; trung học cơ sở (cấp II), 3 năm và trung học phổ thông (cấp III), 2 năm. Tuy nhiên, đến năm 1956, chính quyền lại ra nghị quyết cải tổ giáo dục phổ thông, đổi lại thành 10 năm: cấp I, 4 năm; cấp II và cấp III, mỗi cấp có 3 năm.
Năm 1956, VNDCCH tổ chức lại cấp đại học và lập ra năm trường đại học gồm Bách khoa, Nông lâm, Sư phạm, Y dược và Tổng hợp. Cũng kể từ đó giáo trình đại học bỏ mô hình của Pháp và theo chương trình học của Liên Xô, chú tâm đến mặt thực dụng.
Hệ thống giáo dục đại học bị phân tán đơn lẻ khiến Bộ Giáo dục không giữ vai trò quản lý mà chỉ là cơ quan liên lạc giữa các trường sở. Bậc đại học trong thời gian hơn 20 năm không cấp bằng tiến sĩ nào nên sinh viên cần đào tạo kiến thức cao hơn sẽ phải đi du học ở Liên Xô và Đông Âu.
Cũng vì quan niệm giáo dục phải phục vụ mục tiêu chính trị nên bất kể học ở chuyên ngành nào, sinh viên đại học đều phải học triết học Mác-Lê và lý thuyết đấu tranh giai cấp. Sinh viên khi tốt nghiệp không trình luận án mà chỉ thi hai phần: Chuyên môn và Chính trị.
Bắt đầu từ niên học 1959-1960, các đối tượng được xét tuyển vào đại học được xếp thành ba nhóm với những điều kiện căn cứ trên giai cấp và lý lịch:
(1) Thành phần cán bộ kháng chiến, thanh niên giai cấp công nông, cán bộ dân tộc thiểu số có lý lịch sạch, tư tưởng chính trị vững chắc, học xong lớp 10 sẽ được ưu tiên nhập học; (2) Thành phần cán bộ, đảng viên, con em bần nông, cố nông, hoặc trung nông, con em liệt sĩ và (3) Thành phần khác được chọn theo điểm nhưng thành phần “giai cấp bóc lột” không được quá 3%.
Chỉ 6 ngày sau khi sự kiện 30/4/1975, Arthur W. Galston, Giáo sư Đại học Yale đến Miền Bắc, khi đó vẫn thuộc thể chế VNDCCH. Bài viết của Galston trên tạp chí Science (số ra ngày 29/8/1975) tiết lộ một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo Miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với Miền Nam: “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên”.
Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston vẫn nhận thấy “các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở Miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào Miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi…”
198+8+L%E1%BB%85+khai+gi%E1%BA%A3ng+ng%C3%A0y+15+th%C3%A1ng+11+n%C4%83m+1945+%E1%BB%9F+Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+%C4%90%E1%BA%A1i+h%E1%BB%8Dc+Qu%E1%BB%91c+gia+Vi%E1%BB%87t+Nam,+c%C6%A1+s%E1%BB%9F+gi%C3%A1o+d%E1%BB%A5c+%C4%91%E1%BA%A1i+h%E1%BB%8Dc+%C4%91%E1%BA%A7u+ti%C3%AAn+c%E1%BB%A7a+ch%C3%ADnh+th%E1%BB%83+Vi%E1%BB%87t+Nam+D%C3%A2n+ch%E1%BB%A7+C%E1%BB%99ng+h%C3%B2a.jpg
Lễ khai giảng trường Đại học Quốc gia Việt Nam, cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của VNDCCH năm 1945
Tại Miền Nam, ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ nhất Cộng hòa, những người làm công tác giáo dục đã xây dựng được nền móng quan trọng cho quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu và những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đều ngưng lại trước ngưỡng cửa học đường.
Ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt sau năm 1975 kể lại:
“Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của Miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…”
198+9+H%E1%BB%8Dc+sinh+1.jpg
Nữ sinh Miền Nam
Về tổng quan, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết. Thay vào đó là việc áp dụng mô hình giáo dục của Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.
Dĩ nhiên có những điều khen-chê về mô hình này, có ý kiến cho rằng: “Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam. Mỹ-Ngụy đã cố sử dụng giáo dục làm công cụ xâm lược Việt Nam. Chúng đã gieo rắc trong học sinh, sinh viên tư tưởng hoài nghi, mơ hồ, tư tưởng an phận, sợ Mỹ, phục Mỹ. Chúng phát triển trong học sinh, sinh viên lối sống thực dụng, quay lưng với hiện tại, chấp nhận cuộc sống vị kỷ ương hèn… Mặt khác, Mỹ-Ngụy tìm mọi cách tiêu diệt nền giáo dục cách mạng, tìm cách ngăn chặn, loại trừ những mầm mống cách mạng trong nhà trường.”
Hai nền Cộng hòa (đệ nhất và đệ nhị) chỉ tồn tại chỉ trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, nhưng phải nhìn nhận hoạt động giáo dục đã phát triển vượt bậc, bất chấp những ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra. Thêm vào đó là tình trạng ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ.
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn được thành lập vào năm 1957, là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958. Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên. Bên cạnh đó còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.
198+10+M%E1%BB%99t+l%E1%BB%9Bp+ti%E1%BB%83u+h%E1%BB%8Dc+%E1%BB%9F+mi%E1%BB%81n+Nam+v%C3%A0o+n%C4%83m+1961.jpg
Một lớp tiểu học ở Miền Nam năm 1961
Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình Sư phạm Cấp tốc. Chương trình này nhận những người đã đậu bằng Trung học Đệ nhất cấp, hằng năm đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.
Giáo sư trung học thì phải theo học chương trình của trường Đại học Sư phạm. Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho chính phủ ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.
Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.
Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.
Việc thi cử cũng có nhiều cải tiến. Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965-1966. Ngay từ đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để “điện toán hóa” toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết.
Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình và tính thứ hạng trúng tuyển. Đến năm 1974, các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu hỏi trắc nghiệm.
198+11+Vi%E1%BB%87n+%C4%90%E1%BA%A1i+h%E1%BB%8Dc+S%C3%A0i+G%C3%B2n,+c%C6%A1+s%E1%BB%9F+gi%C3%A1o+d%E1%BB%A5c+%C4%91%E1%BA%A1i+h%E1%BB%8Dc+l%E1%BB%9Bn+nh%E1%BA%A5t+mi%E1%BB%81n+Nam+Vi%E1%BB%87t+Nam+th%E1%BB%9Di+Vi%E1%BB%87t+Nam+C%E1%BB%99ng+h%C3%B2a..JPG
Viện Đại học Sài Gòn, cơ sở giáo dục đại học lớn nhất Miền Nam
Đọc Ngựa Chứng Trên Sân Trường của Duyên Anh [3] người ta thấy rõ bức tranh toàn cảnh của việc Dậy và Học dưới thời VNCH trong thời chiến tranh. Nhân vật chính trong truyện là thầy giáo Trần Minh Định, 24 tuổi, độc thân và thậm chí còn chưa có người yêu.
Định xuất thân từ một đứa trẻ nhà nghèo, đi bán báo từ năm học Đệ Thất để có tiền ăn học và vì yêu nghề dạy học nên anh thi vào Đại học Sư phạm. Khi ra trường, anh được bổ nhiệm về dạy tại một tỉnh miền Đông, “thành tích” đầu tiên của anh là “chống gian lận thi cử” nên bị trả về Bộ. Cuối cùng anh chọn một trường trên cao nguyên và đối đầu với vài “con ngựa chứng” lớp Đệ Nhị B2.
Một trong những “con ngựa” chứng đã nói thẳng vào mặt thầy Định: “Ông mới về đây biết con mẹ gì. Lớp này trước hơn sáu chục mạng. Mỗi ngày một vơi đi, giờ chỉ còn ba chục. Bạn bè tôi lần lượt đi lính. Nhiều đứa đã chết. Tôi cóc muốn học. Tôi khoái nổi loạn, chờ ngày đăng lính. Ông cứ việc đuổi tôi. Tôi tởm những thằng giáo sư trẻ. Chúng nó vô tư cách”.
Giáo sư Định suy nghĩ: “Ở trường sư phạm, người ta không dạy tôi cách đối phó với những đứa học trò ngang tàng. Người ta chỉ truyền cho tôi những kinh nghiệm sư phạm và khả năng chuyên môn. Tôi đã thực tập tại nhiều trường. Những lớp tôi tới thực tập toàn là lớp kiểu mẫu. Tôi cũng đã đọc thêm nhiều sách viết về tâm lý giáo dục. Tuyệt nhiên, tôi chưa được học, được đọc cách giáo huấn phủ đầu những học trò như những thằng đang khiêu khích tôi. Tôi hơi bối rối (…) Vì tôi không thể tưởng tượng “Bầy Thú Trước Bảng Đen” [4] lại có thật trước bảng đen trong lớp học của tôi. Tôi là đứa trẻ nghèo khổ đã chinh phục mọi nỗi gian nan để vươn lên. Tôi kiêu hãnh điều đó. Tôi đã chiến thắng cuộc đời thì không thể thua một vài con ngựa chứng”.
198+12+Ng%E1%BB%B1a+Ch%E1%BB%A9ng+Tr%C3%AAn+S%C3%A2n+Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng.jpg
“Ngựa Chứng Trong Sân Trường” của Duyên Anh
Sang đến thời kỳ “hậu-1975” có nhiều điều đáng nói về giáo dục. Trong niên học 1975-1976, niên học đầu tiên của hai miền Nam-Bắc, lối học tập chính trị được đem áp dụng triệt để ở Miền Nam và cả năm học đó được dành cho “công tác chính trị tư tưởng” cho các học sinh, sinh viên cũng như giáo viên, giảng viên.
Đặc biệt, giáo viên môn Văn và Sử phải là người từ Miền Bắc “tăng cường” vào Nam vì họ là những người có đủ trình độ chính trị để giảng dạy. Chính một cán bộ văn hóa đã tuyên bố một câu hết sức thẳng thừng khi trả lời nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, cũng là một giáo sư đệ nhất cấp: “Miền Nam của các anh chị làm gì có văn hóa!”
Học sinh có một số là con em cán bộ từ Miền Bắc vào và được xếp lớp theo tiêu chuẩn lớp 7 ngoài Bắc thì vào ngồi lớp 9 và lớp 8 leo lên lớp 10 trong Nam. Lý do là bậc trung học của miền Bắc chỉ có 10 năm, còn trong Nam, học trò phải trải qua tới 12 năm.
Về phần giáo viên thuộc chế độ cũ, họ phải làm quen với một số từ ngữ lạ tai như “đứng lớp”, “tiết học”, “giáo trình”, “giáo án”, “phụ đạo”, “ngoại khóa”… rồi cả những cụm từ ngữ như “giáo viên chủ nhiệm”, “học sinh cá biệt”, “lao động xã hội chủ nghĩa”, “dũng sĩ kế hoạch nhỏ”…
Nhà văn Nhật Tiến [5], với gần 4 năm giảng dậy “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”, đã có nhiều ghi chép khá thú vị về giai đoạn này qua loạt bài “Nhà giáo – một thời nhếch nhác” viết năm 2012 tại California.
Trước khi được gọi là nhà văn, Nhật Tiến đã là một nhà giáo với hơn 15 năm cầm phấn giảng dạy môn Lý-Hóa. Tuy nhiên, sau khi Sài Gòn đổi chủ, ông cảm thấy “mình phải kiêm nhiệm cùng một lúc cả hai vai trò: vừa là thầy giảng dạy, vừa là tên học trò cứ bị nhà trường uốn nắn thường xuyên từ tác phong, cử chỉ cho đến lời ăn tiếng nói”
“Tôi sẽ không oán thán gì về cái sự đã làm thầy giáo rồi mà vẫn cứ bị đè cổ ra để bắt học tiếp. Miễn là việc học ấy không bắt tôi phải chối bỏ chính mình, và nó thực sự đem lại cho tôi những kiến thức tốt đẹp để tôi có thể truyền đạt lại cho học sinh trong vai trò của một nhà giáo”.
Và đây là tâm sự thầm kín của Nhật Tiến, một giáo viên được “lưu dung” dưới “mái trường xã hội chủ nghĩa”:
“Trong mấy tuần lễ đầu, lớp học của tôi chỉ lác đác có vài đứa học trò vốn là con em cán bộ từ xa tới, còn hầu hết đều là những học sinh miền Nam cũ. Đứng trên bục giảng, nếu mắt không chạm phải tấm biểu ngữ nền đỏ chữ vàng treo ở bức tường phía cuối lớp thì tôi vẫn tưởng như mình đang giảng dạy trong một lớp học của hai năm trước đó. Nhưng cái cảm giác này bị tan biến đi ngay vì tôi biết rất rõ biểu ngữ này trên có chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã nghiễm nhiên thay thế cho hàng chữ “Tiên học Lễ, hậu học Văn” vốn ngự trị ở đó từ hàng chục năm qua. Hồi đầu hè, đã có lần tôi hỏi một thầy trong Hội Nhà Giáo Yêu Nước là tại sao lại xóa bỏ câu “Tiên học Lễ, hậu học Văn” thì thầy nhún vai trả lời “tàn dư lạc hậu, hay ho gì cái thứ lễ nghĩa đó”.
“Đám giáo viên thuộc chế độ cũ chúng tôi, bất kể thâm niêm hay cấp lớp giảng dạy, trong niên học đầu tiên mọi người đều được lãnh đồng đều mỗi tháng 30 đồng, và chỉ thay đổi bậc lương khi mỗi người được chính thức vào “biên chế”. Lương 30 đồng mà thời giá khi đó là 10 đồng 1 kí gạo, 1 đồng 1 lon ngô đong vừa đầy một ống lon đựng sữa bò, thì tất nhiên là phải có thêm nhu yếu phẩm cấp phát đi kèm.
Hầu như mỗi tháng 2 kỳ, mỗi giáo viên được lãnh 1 hộp sữa bò, một túi đường trắng có khi là đường bổi, đường miếng (tôi chưa bao giờ cân xem nó nặng bao nhiêu gam), một túi nhỏ đậu xanh hay đậu đen, 1 thếp giấy viết khổ đôi, 2 cuộn giấy đi cầu (loại giấy đã tái chế biến, dầy xộp, có mầu đỏ hồng chứ không phải mầu trắng).
Lâu lâu thì có thêm 1 chai bia hay một gói thuốc lá. Nhưng mấy thứ này thì phải chia nhau. Bia thì cứ hai người một chai, thuốc lá hai người một gói. Ai không uống bia, hút thuốc thì đối lấy đường, lấy đậu xanh, hay ngay cả cuộn giấy đi cầu. Nếu cả hai cùng muốn uống bia thì rút thăm, hoặc mở tại chỗ uống chung, thay phiên nhau môi người một ngụm!”
198+13+NhatTien.jpg
Nhà văn & Nhà giáo Nhật Tiến
 Tham khảo:http://chauxuannguyen.org/2014/04/11/dang-sau-nhung-tam-huan-chuong-cua-nu-du-kich-my-linh-tuc-le-thi-thu-nguyet/
Nguyễn Ngọc Chính