Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Công nhận Việt Nam cộng hòa là tiền đề cho hòa hợp dân tộc

Công nhận Việt Nam cộng hòa là tiền đề cho hòa hợp dân tộc

Ngày 18-8, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát nền lịch sử nước ta từ khởi thủy đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn. Một trong nhiều điểm mới của bộ sách lịch sử quan trọng này là việc đề cập đến sự tồn tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa như một thực thể chính trị độc lập tại miền Nam Việt Nam.
Một lần nữa, có muôn vàn ý kiến phản đối câu chuyện công nhận này. Thế nhưng phải chăng chúng ta đang quá khắt khe.


Tôi – sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, thế hệ cha ông chú bác tôi đã tham gia và đi qua ít nhất là 1 cuộc kháng chiến, và để lại trong đất 1 phần máu thịt. Cuộc chiến tranh ấy đã lấy đi của gia đình tôi nhiều thứ, mỗi năm vào ngày giỗ, chúng tôi vẫn quây quần bên nhau để ôn lại những kỉ niệm, kể về những câu chuyện cũ. Tôi cũng biết nhiều gia đình giống như chúng tôi, trải qua khốc liệt của bom đạn, và cũng có những người thân yêu phải nằm lại nơi chiến trường, hoặc ít nhất là  để lại một phần máu thịt.
Nói như vậy để hiểu rằng, có những giá trị mà chúng tôi không quên, cũng chưa bao giờ quên. Và cũng có những nỗi đau mà chúng tôi cũng thấu cảm phần nào.
 
Chúng ta chiến đấu vì Nam Bắc 1 nhà, nhưng hòa bình rồi sao lòng người còn chia cắt???
Thế nhưng sau này khi vào Nam học hành và làm việc, tôi chợt nhận ra một điều rằng nỗi đau đó không phải chỉ của riêng ai.
Tôi đang muốn nói đến những nỗi đau trong im lặng.
Hầu như gia đình miền Nam nào sau hậu chiến cũng phải hứng chịu những nỗi đau khác nhau. Đó là những li tán sau Hiệp định Geneve chia cắt 2 miền, những cuộc tù cải tạo dài đằng đẵng, những chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, những vụ vượt biên, những đứa trẻ sinh ra, lớn lên sau cuộc chiến và khó xin công việc vì lý lịch xấu… Và những bà mẹ, họ cũng có những đứa con nằm lại ở chiến trường, nhưng lạnh lẽo và vô danh. Những câu chuyện tôi nghe gần chục năm nay đã để lại trong lòng những người trải qua chúng tổn thương khó hàn gắn.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi nói về ngày thống nhất đất nước 30/4 đã cho rằng: “Nhiều sự kiện khi nhắc lại, có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”.
“Triệu người buồn” ấy cũng là giống nòi Việt. Họ hoặc đã rời đất nước này ra đi, hoặc vẫn ở lại trong lòng mang ít nhiều ấm ức.
Nỗi ấm ức ấy có lẽ không phải vì họ đã trở thành công dân của một nước Việt Nam thống nhất. Toàn vẹn lãnh thổ là khát vọng của cả dân tộc, ngày 30/4/1975 là ngày khát vọng ấy trở thành hiện thực. Có điều, cách “trở thành hiện thực” ấy đã tốn quá nhiều xương máu bởi sự thiếu thiện chí của cả hai bên. Nỗi ấm ức ấy có lẽ bởi những tổn thương hậu chiến là quá lớn.
Bốn mươi hai năm đã qua đi, gần như đã đi hết một đời người, người trẻ nhất cầm đến súng trong cuộc chiến năm ấy giờ có lẽ cũng đã đi qua thời kì sung mãn, tuổi trẻ của họ đã để lại nơi chiến trường. Một thế hệ mới đã sinh sôi, đã nảy mầm, những người cuối cùng của thế hệ 9x (thế hệ dân số vàng Việt Nam), giờ đây cũng đã qua cái tuổi 18. Nghĩa là thế hệ sinh ra khi đất nước bắt đầu mở cửa đã và đang bước vào giai đoạn tham gia vào dòng chảy phát triển của đất nước này.
Thế hệ đó không bom đạn, không hận thù, không đổ máu. Họ không mang trong mình tâm thế thời đại như cha ông họ, họ không hừng hực lửa, không có 1 kẻ thù để chiến đấu và chiến thắng, họ không cần phải xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, khi bây giờ hầm đèo Hải Vân đã nối những chuyến xe chở đầy hàng hóa từ Bắc vào Nam.
Cái giờ họ cần chiến đấu bây giờ là chính bản thân họ. Trách nhiệm của họ đó là đưa đất nước phát triển và đi lên sánh vai cùng với các cường quốc 5 châu, chứ không phải bắt họ khư khư giữ lấy những giá trị khi mà nó đã qua đi. Cha ông chúng ta đã chiến đấu để giành lại sự thống nhất của non sông, để cho thế hệ sau này có cơ hội làm khác đi, sống khác đi những gì mà họ phải gánh chịu. Một thế hệ đã hi sinh máu xương, sao còn phải bắt 1 thế hệ đi sau họ phải chịu thêm 1 nỗi buồn.
Chúng ta sẽ không lãng quên, nhưng nếu như cứ để nỗi buồn ấy kéo dài cho đến những thế hệ sinh ra sau cuộc chiến thì đó là nỗi bất hạnh cho cả dân tộc.
Con trai của một người lính Giải phóng quân như tôi ngày hôm nay vẫn làm bạn thân với con trai của một người lính Việt Nam Cộng hòa. Dẫu rằng 42 năm trước, cha tôi và cha anh ấy còn phải cầm súng bắn vào nhau.
Đất nước đã hòa bình rồi. Chiến tranh đã chấm dứt. Đã đến lúc dân tộc phải tiến hành công cuộc hòa giải. Thống nhất đất nước phải là tiền đề cho thống nhất nhân tâm, thống nhất tinh thần dân tộc…

Có như thế dân tộc mới trở nên mạnh mẽ, mới đoàn kết để chống xâm lược, mới có thể giữ gìn giang sơn, đất trời và biển.

Việc hòa giải đó phải bắt đầu từ cải cách trong tư duy con người và thứ hình thành nên tư duy con người, đó là sách vở.
Cho nên việc từ bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” và công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh. Sẽ chẳng còn ai tổn thương như những người bị kì thị, nằm ngoài vòng quay của xã hội dù cho hằng ngày hằng giờ, mồ hôi của họ vẫn đổ vì sự phát triển của đất nước này.
Ngoài những người ở trong nước, hiện có hơn 4 triệu Việt kiều trong đó các thành phần trong chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng rất quan trọng.Sự đóng góp của họ là không thể nào phủ nhận. Công nhận Việt Nam cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc, như ý nguyện của hàng triệu triệu con dân của nước Việt Nam này.
Trên tất cả, hòa giải dân tộc, sẽ là động lực tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc trong cuộc cạnh tranh và sống còn trong một thế giới còn nhiều thách thức.
Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai chính là như vậy.
Và còn bởi vì chúng ta là đồng bào của nhau.
Hoàng Thương
 http://ngonco.net/cong-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-can-thiet-de-hoa-hop-dan-toc.html

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

Vụ Trịnh Xuân Thanh: Chức danh Tổng bí thư có bảo vệ được ông Nguyễn Phú Trọng thoát khỏi lệnh truy nã quốc tế?


Vụ Trịnh Xuân Thanh: Chức danh Tổng bí thư có bảo vệ được ông Nguyễn Phú Trọng thoát khỏi lệnh truy nã quốc tế?


TBT Nguyễn Phú Trọng của Việt Nam từ một người “đi bình” có lẽ cũng cần phải chứng minh ngoại phạm trong vụ bắt cóc này khi ông nhiều lần tuyên bố “bắt cho bằng được Trịnh Xuân Thanh”, vì từ người đi săn cũng có thể trở thành kẻ bị săn đuổi trên toàn thế giới.
Tại buổi tiếp xúc cử tri huyện Đông Anh, Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Phải bắt bằng được Trịnh Xuân Thanh“. Ảnh: internet
Gần tới hội nghị Trung ương 6 dự kiến sẽ diễn ra vào cuối năm 2017, không khí chính trị trong nước càng trở nên ngột ngạt khi xuất hiện ngày càng nhiều những triệu chứng vắng bóng bí hiểm của CT nước Trần Đại Quang và thường trực ban bí thư Đinh Thế Huynh, vốn là những người đứng đầu Nhà nước cùng nhân vật thứ 2 của Đảng Cộng sản.
Loay hoay với cái “lò” của mình ở Hà Nội, TBT Nguyễn Phú Trọng hô hào đưa củi về đốt bất chấp mọi hậu quả khi phía Việt Nam đang bị Chính phủ Đức buộc tội tổ chức đường dây bắt cóc công dân của mình trên lãnh thổ của họ, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Đức và châu Âu cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
Cuộc điều tra của cơ quan An Ninh (BKA), Tình Báo Đức (BND) đang được khẩn trương tiến hành với kết quả ban đầu. Công tố viện Liên bang Đức đã ra lệnh bắt giam công dân Việt Nam là ông Nguyễn Hải Long để dẫn độ từ CH Séc về Đức hôm 23.8 phục vụ công tác điều tra.
Được biết ông Long trở thành nghi phạm khi liên tục thuê nhiều xe với nghi ngờ được dùng để chở đội mật vụ Việt Nam từ CH Séc sang Đức thực hiện bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh cùng một nữ cán bộ Bộ Công thương.
Hậu quả là ĐSQ VN ở Đức đã bị phía Đức đưa ra kết luận “tham gia tổ chức và thực hiện bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh tại Berlin hôm 23.7” trên cơ sở các bằng chứng cùng định vị hành trình GPS được gắn trên chiếc xe bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh đã có thời điểm lưu lại khá lâu trong tòa Đại sứ này.
Điều này đã phủ một bầu không khí nặng nề và đầy ngờ vực từ các công dân Việt Nam đang định cư tại Đức đối với cơ quan đại diện của mình, chủ đề về ông Trịnh Xuân Thanh cũng không còn được các cán bộ trong ĐSQ VN ở Đức đem ra bàn luận công khai.
Mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát châu Âu (Europol) có lẽ đang xem xét tiếp đến sự dính líu của ĐSQ VN tại CH Séc trong đường dây tội phạm có tổ chức này, bản thân ông H.Đ.Thắng đại diện hội đồng quản trị khu chợ Sapa của người việt ở Praha cũng phải chứng minh ngoại phạm khi toàn bộ xe và người tham gia âm mưu bắt cóc cũng từ đây mà ra, có lẽ phía cảnh sát sẽ thêm nghi ngờ khi chính ông này đang là CT đoàn TW Mặt trận Tổ quốc, một tổ chức nhuốm màu Chính trị tại Việt Nam.
Cuộc điều tra của Đức đã và đang tiến hành rất bài bản và thận trọng, đặc biệt cuộc điều tra đã lan sang CH Séc thì tất nhiên vụ bắt cóc trở thành một vụ việc mang tính tội phạm quốc tế mà Liên hiệp châu Âu đều phải có trách nhiệm với các thành viên của mình.

Bản tin báo Công An TP. HCM ngày 07.12.2016. Nguồn: CATP

Với trường hợp của cựu Tổng thống Chile Pinochet đã bị còng tay ở London vào tháng 10/1998 vì Tây Ban Nha yêu cầu dẫn độ do tội tra tấn dưới thời ông này làm lãnh đạo, thì nay TBT Nguyễn Phú Trọng của Việt Nam từ một người “đi săn chuột nhưng sợ vỡ bình” có lẽ cũng cần phải chứng minh ngoại phạm trong vụ bắt cóc này khi ông nhiều lần tuyên bố “bắt cho bằng được Trịnh Xuân Thanh”, vì từ người đi săn cũng có thể trở thành kẻ bị săn đuổi trên toàn thế giới.
Trung Khoa – Thoibao.de

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

HAI ÔNG HỌ NGUYỄN ĐAU ĐẦU VỚI HAI ÔNG HỌ TRỊNH

HAI ÔNG HỌ NGUYỄN ĐAU ĐẦU VỚI HAI ÔNG HỌ TRỊNH
 
  Đó là ông TBT Nguyễn Phú Trọng và ông TT Nguyễn Xuân Phúc. Còn hai ông kia là doanh nhân Việt Kiều yêu nước Trịnh Vĩnh Bình và doanh nhân nhà nước tham nhũng Trịnh Xuân Thanh.

 
Ông Nguyễn Phú Trọng đương nhiên là người chịu trách nhiệm trực tiếp trong vụ đưa Trịnh Xuân Thanh về nước để "đầu thú". Còn ông Nguyễn Xuân Phúc là người đứng đầu chính phủ kế thừa hậu quả để lại của các tiền nhiệm, nên phải đối mặt trực tiếp với vụ Trịnh Vĩnh Bình kiện chính phủ VN.

Trịnh Xuân Thanh được cho là người của phe Đinh La Thăng và Nguyễn Tấn Dũng, thời làm chủ doanh nghiệp nhà nước đã làm thất thoát trên 3000 tỷ đồng nên là nghi can trong vụ đại án kinh tế đang bị xử lý theo chỉ đạo trực tiếp của TBT Nguyễn Phú Trọng, nhưng đã trốn thoát qua nước Đức xin tị nạn. Sau đó xảy ra vụ y bị đưa về nước xin "đầu thú" như công bố chính thức từ phía VN. Tuy nhiên phía Đức đã phản ứng mạnh mẽ và cho đó là một vụ bắt cóc vị phạm nghiêm trọng chủ quyền và pháp luật Đức cũng như công pháp quốc tế.



Ông Trọng đau đầu và cơn đau này cứ kéo dài như bị tra tấn mỗi khi từ Berlin, một trung tâm lớn của Châu Âu hé ra từng thông tin về vụ bắt cóc kèm thêm thông tin về các biện pháp trừng phạt của Đức. Bắt đầu là phản ứng mạnh mẽ của bộ ngoại giao Đức, rồi lệnh trục xuất một nhân viên tình báo của tòa đại sứ VN, rồi tin cho nghỉ việc để điều tra một người gốc Việt trong cơ quan xét duyệt tỵ nạn (BAMF) vì nghi ngờ dính líu đến vụ bắt cóc, rồi chuyển việc điều tra bắt cóc lên cơ quan công tố cấp liên bang, rồi toàn thể dân biểu quốc hội Đức đòi trừng phạt VN, rồi tin tìm ra chủ hảng xe cho thuê để bắt cóc, rồi hành trình xe bắt cóc bị ghi lại toàn bộ qua máy định vị GPS, rồi tìm ra người gốc Việt ở Sec thuê xe phục vụ bắt cóc, rồi tin người nầy bị bắt và bị dẫn độ về Berlin, rồi tin người bị bắt cóc được đưa vào sứ quán VN ở Berlin trước khi bị đưa về VN qua sân bay ở Sec trong tình trạng nằm trên cáng khiêng, rồi tin phát hiện ra nhân tình của TXT cũng có mặt tại hiện trường vụ bắt cóc và bị đánh đến gãy tay....

Mỗi thông tin đưa ra như một tiếng búa nện vào tai ông ấy. Mà gần một tháng qua, từ trung tâm Berlin cứ thế, chậm chạp, đều đặn và từ tốn vang lên từng nhát búa, chưa biết đến lúc nào mới ngưng. Khổ thân ông. Phải chi trắng đen, nước Đức lạnh lùng ấy làm quách một lần cho xong để ông Trọng dứt cơn đau đầu, yên tâm lo việc đốt lò cứu đảng.

Ở trung tâm khác của Châu Âu còn lớn hơn, một ông Trịnh khác đang làm đau đầu nhức óc ông Nguyễn thứ hai. Việc xét xử vụ án đang diễn ra căng thẳng. Hai đội ngũ luật sư danh tiếng từ hai nước Mỹ và Anh đại diện quyền lợi cho hai phe Trịnh và Nguyễn đang nã pháo lý lẽ vào nhau, tranh giành từng milimet lợi thế. Mấy ngày nay, ông Nguyễn này phải mất ăn mất ngủ để hóng tin thuộc cấp báo về từng giờ diễn biến tranh tụng tại tòa.

Ông Phúc ắt rất hận mấy tay tiền nhiệm cấp trên và cấp dưới quá tham lam và lạm quyền để xảy ra cớ sự này. Phải chi sau vụ hòa giải thành ở Singapore, đừng tham tiếc, trả quách hết tài sản lại cho ông Trịnh như đã cam kết. Tôi thấy ở đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn, ngay bên cạnh tòa nhà đồ sộ của công an thành phố có một khách sạn 10 tầng của ông Trịnh xây dựng cách đây hơn 20 năm vẫn còn bỏ hoang, sao không trả lại cho ông ta? Còn bao nhiêu tài sản khác, nhiều lắm, do tham lam tẩu tán hết rồi thì tịch thu lại hoặc không thu lại được thì quy ra tiền rồi rút tiền ngân khố ra đền bù cho ông ta. Hồi đó không làm những việc đó để bây giờ phải đi hầu tòa.
Ở phiên tòa Paris này, dù ông Nguyễn có thắng ông Trịnh thì VN cũng thua to. Bao nhiêu cái xấu xa của hệ thống tư pháp không độc lập bị phơi bày ra trước mắt thiên hạ qua vụ hình sự hóa quan hệ kinh tế với nhà đầu tư Trịnh Vĩnh Bình trước đây ở VN.

Qua hai sự việc lùm xùm ở hai trung tâm trời Âu nầy chúng ta thấy nổi lên số phận của hai ông họ Trịnh.
Một ông là dân thường sinh ra ở miền Nam, được hấp thu nền giáo dục khai hóa nhân bản, sau 75 không thể sống chung được với cộng sản nên bỏ nước ra đi, tự thân lập nghiệp ở xứ người, vươn lên thành doanh nghiệp thành đạt có tiền triệu đô la. Với số tiền đó, ông có thề ở không hưởng thụ suốt đời hoặc tiếp tục đầu tư mở rộng để phát triển lên hơn. Nhưng nghe lời kêu gọi của những người cộng sản mà ông tin rằng đã thay đổi, cộng thêm thôi thúc của lòng yêu nước, ông Trịnh mang bạc triệu đô la về đầu tư phát triển quê hương. Và thế là ông dính bẫy, không những bị cướp hết tài sản mà bản thân còn bị đày đọa vào chốn ngục tù. Quá sức bi kịch cho số phận của một con người.

Ngược lại, ông Trịnh kia là công tử đỏ, sinh ra, lớn lên, học tập trong cái nôi cộng sản, chẳng cần tự thân nỗ lực, học hành chưa qua trình độ viết đúng chính tả cơ bản, vẫn được o bế đưa lên ngồi vào những chức vụ ngon lành nhất, nắm trong tay một doanh nghiệp với hàng ngàn tỷ đồng vốn. Rồi lại thăng tiến lên phó chủ tịch tỉnh, rồi đại biểu quốc hội, rồi sẽ mọi thứ chức tước cao ngất nữa đang chờ phía trước, nếu như...

Kiểu công tử đỏ, thái tử đỏ như Trịnh Xuân Thanh có đầy rẫy đang ngồi trên đầu nhân dân ở khắp mọi nơi để làm tàn lụi đất nước. Trường hợp công tử đỏ TXT chỉ là một sự cố hết sức cá biệt bị lộ, bị hy sinh, bị biến thành củi để nhóm lò cứu đảng.

Nhưng mệnh đời run rủi thế nào, hai ông họ Trịnh, hai số phận xa lạ khác biệt ấy lại gặp nhau ở một điểm chung. Cùng xuất hiện trong một khoản thời gian tại hai trung tâm lớn ở Châu Âu, được nền luật pháp công minh của nhân loại tiến bộ bảo vệ, để gây ra những cơn đau đầu chưa biết khi nào dứt cho hai ông họ Nguyễn đầy quyền lực ở VN.

Cũng qua vụ đau đầu của hai ông Nguyễn mà chúng ta hiểu ra rằng luật pháp của nhân loại văn minh là luật pháp vì con người, bảo vệ cho từng thân phận con người, dù đó là con người gì.
 
 https://huynhngocchenh.blogspot.de/2017/08/hai-ong-ho-nguyen-au-au-voi-hai-ong-ho_25.html#more

Chuyện gì đã xảy ra vào năm 1945?

Buổi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim ngày 17 tháng 8 năm 1945.
Có lẽ đa số các bạn đều đã được giáo dục rằng biến cố lịch sử với tên gọi “Cách mạng tháng Tám” (CMT8) là một “mốc son đánh dấu nước ta thoát khỏi ách đô hộ của Pháp và gông xiềng Nhật”. Cuộc “cách mạng” này đã dẫn tới sự kiện mà ngày nay chúng ta gọi là “Quốc khánh” – mồng 2/9. Thêm nữa, năm 1945 đánh dấu nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử Việt Nam, thảm cảnh 2 triệu đồng bào chết đói đã trở thành nổi ám ảnh qua nhiều thế hệ gia đình Bắc Việt Nam.

Thế nhưng, lịch sử thì luôn phức tạp hơn những gì mà chúng ta vẫn được tuyên truyền. Và tuy nhiều bạn đã nắm rõ sự thật về cuộc nội chiến kéo dài 21 năm sau biến cố đó, song về sự kiện diễn ra vào ngày này cách đây 72 năm thì vẫn rất mơ hồ. Vậy rốt cục thì chuyện gì đã xảy ra vào quãng thời gian này? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu dưới một góc nhìn khác.

1. Trước CMT8, Việt Nam tồn tại mấy thế lực ?

Có thể nói rằng tại Việt Nam thời kỳ đó tồn tại rất nhiều thế lực chính trị khác nhau: Pháp có, Nhật có, cũng như một chính phủ độc lập về mặt chính trị song vẫn phụ thuộc vào quân sự của Nhật với tên gọi “Đế quốc Việt Nam”. Ngoài ra, không thể không nhắc đến sự xuất hiện thầm lặng tới tưởng chừng như vô hình của Mỹ và hiển nhiên là phe cánh Việt Minh.
Điều đáng chú ý nhất ở đây là về chính phủ Đế quốc Việt Nam của Trần Trọng Kim - một trong những thể chế Dân chủ đầu tiên, được triều đình phong kiến ủng hộ và là nền móng quan trọng cho sự hình thành của Việt Nam Cộng Hoà sau này, dù chỉ tồn tại trong vòng 4 tháng (17-04-1945 đến 19-08-1945).

+ Chính phủ Trần Trọng Kim :

Chính phủ Trần Trọng Kim có thể nói là một tai nạn lịch sử, vì sao nói là một tai nạn lịch sử? Điều này đã được ông thừa nhận trong hồi ký của mình. Lúc ấy ông giáo gần lục tuần đã phải ngồi vào bàn cờ chính trị, đối mặt với một đất nước nghèo đói. Sau này trong hồi ký của ông, vị thủ tướng bất đắc dĩ này đã kể lại rằng sau gần mười ngày chờ đợi và cứ cách ba bốn hôm ông lại đến gặp cố vấn tối cao Nhật - Yuichi Tsuchihashi để hỏi tin tức về ông Diệm để được trả lời là “chưa biết ông Diệm ở đâu” sau là “ông Diệm đau chưa về được”, rồi vì vua Bảo Đại “sốt ruột, triệu tôi vào bảo chịu khó lập chính phủ mới”. Tâm sự của hai người đã được giãi bày qua lời kể lại sau đây.

“Ngài (vua Bảo Đại) nói:”Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:- Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin Ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.”

Đến thời điểm này ta đã thấy cụ Diệm đã là một người có tiếng nói trên chính trường, sau thời gian du học tại Pháp và biến cố tháng 8 đã ngăn cản ông quay về tiếp quản Quốc gia, trong nước ông Nhu - em của cụ Diệm đã thành lập một đảng riêng hoạt động bí mật dưới con mắt dè chừng của Pháp tại chính tư dinh ở Đà Lạt sau khi vua Bảo Đại thoái vị về đây sinh sống. Tiếp nữa, ông đã mở rộng hoạt động xuống đến tận sài Gòn chờ ngày anh trai về nước nhậm chức Tổng thống Quốc gia đa nguyên đầu tiên trong lịch sử nước nhà mang tên gọi Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1955 - dưới sự chấp thuận của vua Bảo Đại, lúc này đã lưu vong sang Pháp, trở thành kẻ tội nghiệp cho chính những điều mình không gây ra.

Vì mới thành lập quân đội của Đế quốc Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào quân Nhật, kẻ thua cuộc sau Thế Chiến II, đã đầu hàng và khát vọng duy nhất của Nhật không còn là lợi ích kinh tế và quân sự mà là làm sao khôi phục lại tầm ảnh hưởng bằng hình thức "Khối Đại Đông Á" của mình, tư tưởng này đã được ông Chương - tiến sĩ Luật khoa đầu tiên của Việt Nam, cha đẻ của bà Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân bảo rằng "Ít ra Nhật không đánh giá sự ưu việt qua màu da như Pháp". CP Quốc gia Việt Nam đã thi hành nhiều cải cách dưới bàn tay hậu thuẫn của cựu hoàng Bảo Đại : Ủy Ban dư thảo Hiếp Pháp do gồm 15 thành viên ; Ủy ban cải cách cai trị, tư pháp và tài chánh ; Ủy ban cải cách giáo dục ; cuối cùng ngày 1-7-1945 vua Bảo Đại ban hành bô luật thành lập Hội đồng tư vấn Quốc gia gồm cả ba ủy ban cải cách trên).

Và Trần Trọng Kim đã thành lập được một chính phủ với danh sách các bộ trưởng được đệ trình lên nhà vua vào sáng ngày 17 tháng 4 năm 1945. Chính phủ đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập này gồm có một thủ tướng với danh xưng nội các tổng trưởng và mười bộ trưởng với hai người là giáo sư, bốn người là y sĩ, bốn người là luật sư và một người là kỹ sư. Đây là lần đầu danh xưng bộ trưởng đã dùng thay cho danh xưng thượng thư, cùng với sự xuất hiện của nhiều bộ mới như ngoại giao, thanh niên, y tế, tiếp tế… nhằm đáp ứng nhu cầu của thời cuộc, thay vì chỉ có lục bộ như thời trước. Trong số các bộ, không bộ quốc phòng. Trần Trọng Kim trong hồi ký của ông có giải thích điều này bằng nhiều lý lẽ, nhưng sự thiếu vắng bộ quốc phòng đã gây ra cho chính phủ của ông nhiều trở ngại khi tình thế thay đổi và nhất là khi quân Nhật bị giải giáp và Việt Minh cướp chính quyền.

Tìm hiểu về con người Trần Trọng Kim, với bản chất là một nhà giáo, một tác giả của bộ sách Giáo Khoa Thư cho đến hiện tại người ta vẫn còn in lại và vẫn còn ưa đọc và viết nhiều về nó, với bản chất là một nhà nghiên cứu về lịch sử, triết học, một dịch giả của thơ Đường, đặc biệt là Việt Nam Sử Lược, một tác phẩm vừa là giáo khoa, vừa là nghiên cứu phổ thông cho đến những ngày hiện tại vẫn còn được nhiều người tin cậy và cẩn trọng giữ gìn.

Là một nhà giáo và một nhà nghiên cứu không đảng phái, không bè đảng, không có sẵn người, "nhà chính trị bất đắc dĩ " đã dựa theo tiêu chuẩn phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục. Về giáo dục, chính phủ chủ trương dùng quốc ngữ giảng dạy thay chữ Pháp, và rất chú trọng đến ngành giáo dục kỹ thuật. Cầm quyền chưa được hai tháng, vào ngày 8- 6-1945, chính phủ quy định rằng từ đây, chữ quốc ngữ và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức ở các công sở và trường học. Trong trường học, Pháp văn được giảng dạy như một ngoại ngữ. Kỳ thi tiểu học năm nay là kỳ thi đầu tiên bằng quốc ngữ, và dự định sẽ dùng quốc ngữ trong các kỳ thi cao hơn. Chương trình trung tiểu học được Việt Nam hóa, do bộ trưởng bộ Giáo dục Hoàng Xuân Hãn đưa ra. Chương trình này là nền tảng căn bản cho chương trình giáo dục của các chính phủ trong chính thể Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa sau này.

Vượt qua tất cả mọi khó khăn, Trần Trọng Kim và các cộng sự viên của ông đã vạch ra những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể và thực tế, từ những việc làm có tính các tương trưng như đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đổi quốc kỳ, duyệt lại quốc ca… đến cứu đói, thu hồi toàn vẹn lãnh thổ, bắt các quan ở các tỉnh phải trực tiếp liên lạc với chính phủ Việt Nam và cấm họ liên lạc trực tiếp với người Nhật như họ vẫn liên lạc với người Pháp trước kia, Việt Nam hóa nền giáo dục, cải tổ thuế má, tư pháp, vận động thanh niên sinh viên và cả quần chúng nói chung tham gia sinh hoạt chánh trị, xã hội, lập các hội đồng tư vấn địa phương và vận dụng mọi khả năng để thực hiện.

Các đoàn thanh niên này góp phần đắc lực trong việc vận động cứu đói đồng bào Bắc Bộ. Từ đó ý thức xã hội và tinh thần dân tộc quật khởi mạnh mẽ trong giới thanh niên. Phong trào thanh niên đang hăng say hoạt động, thì chính phủ Trần Trọng Kim từ chức sau khi Nhật bại trận.

Điều này khẳng định không riêng Trần Trọng Kim mà luôn cả Bảo Đại “không phải là “bù nhìn” của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thưc tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tượng thống nhất mơ hồ như trong hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba 1946 mà Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao Ủy Bollaert”.

Sự thành lập của chính phủ Trần Trọng Kim đã đánh dấu việc đầu tiên nước ta chính thức mang quốc hiệu "Việt Nam" - và sẽ còn giá trị đến mãi sau này .

+ Còn về thế lực của Mỹ? Điều này nghe có vẻ bất ngờ nhưng hóa ra lại không vì từ năm 1932 OSS (tiền thân của CIA) đã ngấm ngầm can thiệp bảo vệ Nguyễn Ái Quốc khỏi bị tử hình tại Trung Quốc. Vào sự kiện ngày 2/9/1945 diễn ra ở Quảng trường Ba Đình, một đội đặc nhiệm mang tên "Nai Vàng" đã ầm thầm theo bảo vệ lãnh đạo của Việt Minh. Nhưng vì ông ta là một con người của Công Sản III với mục tiêu: ''Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng, làm thất bại các chính phủ trong chiến tranh'', nghĩa là đi tìm kiếm sự độc tôn đảng phái bằng con đường bạo lực vũ trang, thà hy sinh máu của đồng bào chứ không chịu chấp nhận một nền dân chủ được Mỹ hậu thuẫn như VNCH đã làm sau này.

2. Về nạn đói Năm Ất Dậu 1945

+ Nạn đói xảy xa có phải hoàn toàn do Nhật và Pháp?

Trước nạn đói năm ấy, ngay từ khoảng đầu Thế chiến thứ hai, các gia đình miền Bắc đã phải sống dưới khẩu phần cho một người, và cơn đói luôn âm ỉ đâu đó trong lòng đồng bào. Ta có thể thấy qua một số tác phẩm đương thời như “Tắt Đèn” (Ngô Tất Tố), “Một bữa no” hay “Lão Hạc” (Nam Cao). Nạn đói bùng lên từ ngọn lửa âm ỉ đó vào năm Ất Dậu cùng với những thất bát về mùa vụ chỉ vô tình tô đậm bức tranh xơ xác thêm một mảng màu đen.

+ Nhà nước non trẻ của Trần Trọng Kim đã có động thái gì ?

Một trong những chương trình hành động khẩn cấp của chính phủ Trần Trọng Kim là giải quyết nạn đói ở Bắc bộ. Nạn đói bắt đầu từ mùa đông năm 1944, lúc đó còn Pháp thuộc. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương.

Khi chính phủ mới được thành lập (17-4-1945), chính phủ Trần Trọng Kim ra lệnh bãi bỏ việc bắt buộc nông gia bán lúa gạo cho nhà nước, và để cho dân chúng tự do buôn bán gạo. Điều nầy có nghĩa là những quy định trước đây về số lượng lúa gạo phải bán cho nhà nước theo diện tích canh tác cũng bị bãi bỏ. Người dân được tự do vận chuyển buôn bán gạo dưới 50 kí lô mà không cần phải có giấy phép của chính quyền.

Ở các tỉnh, những ngân hàng nông nghiệp sẽ phụ trách mua gạo cho nhu cầu quân sự hay nhu cầu thực phẩm của chính quyền dưới sự kiểm soát của tỉnh trưởng. Những người nghèo đói còn sống sót và những người vô gia cư được chính phủ tập trung vào những nhà nuôi dưỡng đặc biệt để phục hồi dần dần.

Vua Bảo Đại ra sắc chỉ ngày 23-5-1945 hủy bỏ nợ nần do các tiểu nông vay tiền nhà nước trước đây. Chính phủ cho hạ thấp mức thuế nông dân phải đóng góp. Bộ trưởng bộ Tiếp tế Nguyễn Hữu Thí đến Sài Gòn vào đầu tháng 6-1945 để thương thuyết với người Nhật nhằm thay đổi phương cách chở gạo từ Nam ra Bắc.

Để tránh bị phi cơ Đồng minh oanh tạc, gạo sẽ được chở bằng các đoàn thuyền buồm thuê của thường dân. Bộ trưởng Nguyễn Hữu Thí còn đề nghị đưa 1,000,000 dân từ Bắc bộ và Trung bộ vào định cư ở Nam bộ. Những chuyến xe hay những chiếc ghe chở gạo từ Nam ra Bắc, khi quay trở về, thì chở di dân vào Nam lập nghiệp

Ngày 30-6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim cho đánh thuế du hý (vui chơi, giải trí) để lấy tiền tài trợ cho những hoạt động cứu đói ở Bắc bộ. Chính phủ mở chiến dịch báo chí thông tin về những bất hạnh của đồng bào Bắc Bộ để kêu gọi dân chúng tiếp tay cứu trợ. Những cuộc lạc quyên được tổ chức trên toàn quốc. Chiến dịch này đã đem đến nhiều thành quả tích cực.

Tại Hà Nội, vào tháng 5-1945, Tổng hội Cứu tế quyên được 782,403 đồng. Với số tiền này, Tổng hội đã mua được từ kho nhà nước 1,476 tấn gạo phát chẩn cứu đói. Ủy ban Cứu tế Trung ương giúp đỡ Bắc bộ tại Huế và Ủy ban tương trợ giúp đỡ những nạn nhân Bắc bộ tại Sài Gòn, được thành lập. Số tiền quyên góp được dùng mua gạo chở ra giúp đỡ đồng bào đất Bắc.

Tại Nam Bộ, chỉ nội trong tháng 5-1945, hơn 20 hội chẩn tế ra đời, và trong vòng một tháng đã quyên được 1,677,886 đồng, kể cả 481,570 đồng mua và chuyên chở 1,592 tấn gạo ra Bắc giúp cứu đói.

Nổi bật hơn cả và cao đẹp là hình ảnh Hoàng hậu Nam Phương gỡ bỏ trang sức trên người quyên góp cho Hội, hình ảnh đẹp này đã diễn ra dưới thời kỳ Quốc Gia Việt Nam chứ không phải là chế độ VNDCCH như chúng ta vẫn được tuyên truyền.

Đây là lần đầu tiên giới trẻ Việt Nam thực sự bắt tay vào hoạt động xã hội. Những biện pháp của chính phủ cùng sự tiếp tay của đồng bào toàn quốc, đã làm cho tình hình Bắc Bộ nhanh chóng trở lại bình thường. Vẫn còn một vài nơi người nghèo sắp hàng trước các điểm phân phối thực phẩm miễn phí, nhưng nói chung tình hình khá ổn định vào tháng 6-1945.

Nạn đói tưởng đã qua đi. Mặc dầu "Ủy ban Bảo vệ và Giám sát đê điều" được thành lập để lo việc giữ đê, ngăn ngừa nước dâng lên gây lụt lội, nhưng bất ngờ những cơn mưa như thác đổ vào tháng 8-1945 đã tràn ngập tất cả các cánh đồng các tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Hải Dương. Nạn mất mùa trở lại. Vài nơi thiếu gạo, dân chúng đã phải ăn cả lúa giống để dành làm vụ mùa sau.

+ Cộng Sản quấy rối:

Theo những gì chúng ta biết, khi nạn đói xảy ra năm 1945, đảng Cộng Sản Đông Dương và Việt Minh lên án Pháp và Nhật là tác nhân gây ra nạn đói, và chống việc trưng mua lúa gạo.

Việt Minh (VM) đả kích chính phủ Trần Trọng Kim, kích động dân chúng lăng nhục những viên chức chính quyền lo việc cứu tế. Khi biết được Đức rồi Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, một mặt VM xúi giục dân chúng đánh phá các kho lúa. Một mặt khác, VM đứng ra tổ chức cướp các kho gạo.

Việt Minh còn âm thầm chận bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo từ miền Nam ra, rồi VM đem tiếp tế cho những mật khu của họ. Điều này giải thích vì sao trong nạn đói Lãnh đạo và quân đội của VM được mở rộng dù phải sống xa lánh dư luận chính thống của chính quyền đương thời

Việt Minh hợp tác và cung cấp tin tức cho phe Đồng minh, chính là cho Hoa Kỳ, dùng máy bay bắn phá các trục giao thông, khiến việc tiếp tế thực phẩm rất khó khăn. Ngày 23-7-1945, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bộ trưởng bộ Y tế, trên đường đi công tác, từ Thái Bình trở về Hà Nội, đến gần Bần Yên Nhân thì bị máy bay Đồng minh bắn chết. Sự đi lại khó khăn đến nỗi chính phủ Trần Trọng Kim phải dùng xe đạp để chuyển công văn.

Từ đó, nạn đói trầm trọng trở lại. Nạn đói càng trầm trọng thì VM càng dễ tuyên truyền, vừa phản đối chính quyền, vừa chiêu dụ dân chúng bằng cách dùng gạo cướp được để cứu đói những ai chịu theo VM. Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) đã tự nhận trong hồi bút "Tại sao tôi viết Tiến Quân Ca - ngày 7-7-1946, rằng ông theo VM vì bản thân và gia đình quá đói. Sau được đăng trong cuốn "Thiên Thai" tuyển tập nhạc Văn Cao, từ ngà đó ông liên tục đấu tranh cho "Nhân văn giai phẩm" cùng các nhạc sĩ lỗi lạc như Phạm Duy, Ngô Thụy Miên...nhằm phản đói chính quyền CS ép buộc các nhạc sĩ viết nhạc tuyên truyền chiến tranh, đi ngược lại cốt cách của người làm nghệ thuật. Năm 1954, hai người bạn đồng môn của Văn Cao chạy thoát vào Nam, người bạn già này bèn ngậm ngùi với những tác phẩm thơ mộng như "Mùa xuân đầu tiên" của ông bị cấm lưu hành cho đến năm 1992.

+ Năm lần đàm phán với Việt Minh. Lần thứ hai là quan trọng hơn cả vì nó có sự góp mặt của Tổng thống Kim cùng các nội các giáp mặt với một thành viên phe VM. Xin trích nguyên văn hồi ký "Một cơn gió bụi" của ông :

“Đảng Việt Minh lúc ấy rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia, lính Bảo An ở các nơi, phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Nhân dân bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt gì cả, công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh nói họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói như thế, ai nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do Bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngả về Việt Minh.

“Tôi thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến, tôi nói ‘chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng của các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau, nhưng cũng cùng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài để cứu nước được không?

“Người ấy nói: – Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trì nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.

– Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn, nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.

– Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng để đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.

– Theo như ý của các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.

– Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia.

“Rồi người ấy đọc một bài hình như đã học thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được.

“Tôi nói: – Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?

– Chúng tôi sẽ cướp quyền để tỏ cho cả nước đồng minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu cho ai nhường.

– Các ông chắc là các nước đồng minh tin ở sức mạnh của các ông không?

– Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.

– Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử”.

Vâng, lịch sử dân tộc luôn công bằng nhưng liệu thứ lịch sử được kẻ chiến thắng làm méo mó có còn công bằng được hay không? Nó sẽ nảy sinh những chiều tranh luận! Lịch sử không chỉ kể về quá khứ, mà nó còn có giá trị đến hiện tại và tương lai, chính hành động của nhà cầm quyền đương thời sẽ chứng minh cho luận điệu nào là đúng và phù hợp lòng dân nhất. Lịch sử không chỉ kể về quá khứ, mà nó còn có giá trị đến hiện tại và tương lai.

3. Nói về bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh:

Bản tuyên ngôn này thực chất là hoàn toàn không cần thiết, vì từ ngày 11/3 trước đó, Hoàng Đế Bảo Đại, với tư cách nguyên thủ quốc gia và là người kế vị vua Tự Đức đã tuyên bố hủy bỏ hết các hòa ước bảo hộ mà Tự Đức đã kết với người Pháp rồi. Thế nên việc làm của Hồ Chí Minh chỉ là thừa thãi, vô nghĩa.

+ Ngày 13-7-1945, đích thân Trần Trọng Kim ra Hà Nội thương thuyết. Toàn quyền Nhật Bản Yuichi Tsuchihashi chịu trả ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng, vốn là nhượng địa của Việt Nam cho Pháp từ năm 1888.

+ Nam Kỳ (cũ) nay là Nam Bộ vốn là thuộc địa của Pháp, theo quy chế riêng. Vì vậy, lúc đầu người Nhật trì hoãn việc trả Nam Bộ, nhưng sau người Nhật chịu giao Nam Bộ lại cho Việt Nam từ ngày 8-8-1945.

+ Nhưng vì nguyên nhân khách quan Nhật hoàng đầu hàng quân đồng minh ngày 14-8 sau khi liên tục nhận hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, trong thế hỗn mang, Nhật chưa kịp trao trả Nam Bộ cho Quốc gia Việt Nam, thì đã bị Việt Minh đảo chính.

+ Ngày 20-8-1945, Trần Trọng Kim từ bỏ ý định tiếp tục cầm quyền và tuyên bố đã hoàn thành hai sứ mệnh lịch sử là thống nhất lãnh thổ và đặt định nền tảng hành chánh căn bản cho đất nước. Chính phủ của ông họp phiên cuối cùng ngày 23-8-1945 rồi tự giải tán. Về phía vua Bảo Đại, hai ngày sau, 25-8-1945, nhà vua tuyên chiếu thoái vị.

Đi sâu hơn vào chi tiết, người ta thấy Bảo Đại và những vị thượng thư của ông đã tỏ ra rất thận trọng và cân nhắc từng câu, từng chữ để chỉ nói lên những gì cần phải nói và nói một cách rõ ràng, còn bản tuyên ngôn tại Ba Đình ngày 2/9 của Hồ Chí Minh thì dài lòng dòng, mang nặng tính cách xách động quần chúng. Ngay cả những tư tưởng chủ chốt liên hệ tới độc lập, tự do cũng phải đi vay mượn của người Mỹ hay người Pháp.

Mỹ đến thời điểm đó hầu như là một đồng minh của họ Hồ, như đã nói ở trên, ít người biết Mỹ đã cho quân nhảy dù xuống Ba Đình hôm đó để bảo vệ và xa hơn năm 1932, OSS (tiền thân CIA) đã can thiệp để cứu Hồ từ HongKong. Điều đó giải thích vì sao trong “Tuyên ngôn độc lập” của mình, ông ta chỉ công khai chỉ trích duy nhất Pháp, dù có trích dẫn từ cả hai nước đồng minh.


Như đã nói phía trên, là một con người mang nặng tư tưởng Cộng Sản, Hồ Chí Minh sẽ không dễ gì thuận theo người Mỹ thành lập một chính quyền minh bạch. Và sự thật là sau “Tuần lễ vàng” và xa hơn là hai cuộc “Cải cách ruộng đất” đẫm máu, bộ mặt của một tổ chức cộng sản càng rõ ràng hơn, khiến nước Mỹ từ ủng hộ Hồ Chí Minh sang cổ vũ hết mình cho cụ Ngô Đình Diệm. Với cùng một hệ tư tưởng, người tự xưng là “cha già dân tộc” này đã giao cho quân đội Mao Trạch Đông quyền kiểm sát thay thế nhằm tránh phải đối mặt với sự quay lại của người Pháp vốn đã được thoả thuận trong các hiệp định mà các bên có liên quan đã ký kết. Đó là một quyết định không những sai lầm mà đem lại tác dụng ngược với những mong đợi của ông ta. Bằng những viện trợ nhỏ giọt từ một Trung Quốc tiêu điều sau Thế Chiến II, nạn đói không những không được đẩy lùi, nó còn gia tăng hơn về mức độ, cướp đi mạng sống của gần 2 triệu con người.

Sau khi người Pháp thất bại trong việc bảo vệ thuộc địa của mình vào năm 1954 và phải ký kết hiệp định Geneva, hơn 1 triệu người tị nạn gốc Bắc (đã tìm đường tháo chạy trong lúc Nam - Bắc tạm thời tự do mở cửa biên giới, và rất có thể số người tị nạn sẽ còn nhiều hơn bội phần nếu hệ thống thông tin thời kỳ đó không bị hạn chế hoặc là thời gian cho cuộc tị nạn dài hơn. Không có lửa thì sẽ không có khói, và qua bài viết này, chúng tôi hy vọng những bạn đã nhận ra đâu phe chính nghĩa sẽ hiểu thêm về cái thứ được gọi là “độc lập” mà quân Việt Minh đã giành lấy từ việc cướp chính quyền hợp pháp của Trần Trọng Kim vào ngày này 72 năm trước. Thứ “độc lập” đó không có ý nghĩa gì ngoại trừ việc đăt nước ta dưới ách cai trị lớn hơn của quân Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, hơn cả là đặt hàng triệu người con miền Bắc dưới tư tưởng "bạo động và tuyên truyền cướp chính quyền" của Việt Minh hay chính là Đảng Cộng sản về sau này. Đây chính là một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn tới cuộc nội chiến 21 năm sau đó, và rồi là hàng chục năm tăm tối chưa có hồi kết khi mà nền dân chủ cuối cùng trên đất Việt bị xoá sổ...
Posted by

Hòa giải dân tộc: Đã đến lúc người Việt vượt qua chuyện thắng-thua

Hòa giải dân tộc: Đã đến lúc người Việt vượt qua chuyện thắng-thua

“Đã đến lúc người Việt phải vượt qua chuyện thắng- thua. Đất nước chúng ta đang rất cần một khối đoàn kết toàn dân để đối mặt với những thử thách mới, giải quyết những bài toán mới trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đấy mới chính là cái mà chúng ta cần hướng tới”.
GS TSKH Vũ Minh Giang chia sẻ với VietTimes nhân dịp 41 năm thống nhất đất nước.
Bài học từ quá khứ
Thưa ông, mỗi khi nhắc đến truyền thống nhân nghĩa của người Việt “Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn”, “Lấy trí nhân để thay cường bạo”, chúng ta thường quay về với bài học của cha ông. Vậy, vấn đề hòa giải dân tộc được nhìn từ từ quá khứ như thế nào?
– Trước hết cần phải nói rằng Việt Nam chúng ta ở một vị trí địa chính trị khá đặc biệt. Vì vậy, hàng ngàn năm lịch sử đã chứng minh là chúng ta có muốn yên cũng không được. Đây là vùng đất giao thoa, có rất nhiều tác động từ bên ngoài mà chúng ta có muốn tránh cũng không được nên liên tục phải chống ngoại xâm. Không có một triều đại phong kiến phương Bắc nào không đem quân đánh chiếm Việt Nam. Có những triều đại đem binh hùng tướng mạnh đánh Việt Nam đến vài ba lần và cha ông chúng ta luôn phải gồng mình lên để chống lại các thế lực ngoại xâm.Vì vậy, có thể nói rằng, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước vàxây dựng đất nước luôn là nhiệm vụ song hành gánh trên vai của người Việt.
Đối với mọi dân tộc, việc phải chống giặc ngoài để bảo vệ sự tồn vong của mình đã là vô cùng gian nan, thì đối với dân tộc Việt Nam còn gian nan gấp bội. Bởi vì, từ cổ đến kim, ngoại bang đem quân xâm lược Việt Nam không có thế lực nào yếu, mà toàn những đế chế hùng mạnh. Chúng ta nên nhớ chống Nguyên Mông là sự kiện lịch sử có lẽ là thế giới cũng phải nghiêng mình kính trọng cha ông ta. Trước khi quân Nguyên Mông đến Việt Nam thì chưa có nước nào cản được đội quân hùng mạnh này. Họ đánh từ Địa Trung Hải sang đến Thái Bình Dương, đi đâu cũng san bằng hết, gọi là “vó ngựa quân Mông Cổ thì không ai ngăn cản được”, nhưng đến nước ta 3 lần, Đại Việt đều chiến thắng. Đó là chuyện có một không hai trong lịch sử thế giới.
Vậy tại sao cha ông chúng ta lại có thể chiến thắng kẻ thù mà tương quan lực lượng rất chênh lệch với mình? Chúng ta hãy nghe Hưng đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tổng kết rằng,“Thắng được giặc dữ là do trên dưới đồng lòng, anh em đồng thuận, cả nước góp sức”. Đấy là một bài học sáng giá cho thấy, kẻ thù hung hãn đến đâu mà toàn dân tộc thống nhất, đoàn kết thì cũng giành được chiến thắng. Chủ nghĩa yêu nước là thế, đại đoàn kết dân tộc là thế.
Nhưng cũng chính từ cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên chúng ta lại có một bài học thứ hai. Đó là lấy đại nghĩa làm trọng. Chiến thắng lừng lẫy giặc Nguyên Mông, Hoàng đế Trần Nhân Tông bước vào những ngày hòa bình thịnh trị bằng chính hòa giải và hòa hợp. Ngay khi từ phòng tuyến kháng chiến trở về Thăng Long, việc đầu tiên vị Hoàng đế chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc ấy bắt tay vào là đốt toàn bộ những sổ sách ghi chép bằng chứng của những người đã trót phản bội đầu hàng giặc. Sử gia Ngô Sĩ Liên trong “Đại Việt sử ký toàn thư” khi mô tả lại sự kiện này đã viết: “Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc”.
Rồi chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau cách mạng Tháng Tám, Người đã tập hợp được một Chính phủ với nhiều thành phần, giai tầng tham gia. Nhiều nhân sĩ, trí thức đã rời bỏ cuộc sống sung túc ở nước ngoài về tham gia khác chiến.
Đây là những bài học cho chúng ta thấy câu chuyện hòa giải nó quan trong như thế nào. Nó không chỉ là vấn đề của phía “bên này” hay phía “bên kia”mà nó là cốt lõi duy trì khối đoàn kết dân tộc. Nó là sức mạnh nội sinh, là lẽ sống của dân tộc ta từ xưa đến nay.
Đã đến lúc thôi nói về câu chuyện thắng-thua
Ngay sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam đã nhận thức rất rõ, tuyên bố rằng một trong những việc đầu tiên phải làm là hòa hợp dân tộc. Hơn 40 năm đã trôi qua câu chuyện về hòa giải, hòa hợp dân tộc vẫn là vấn đề thời sự. Đâu là nguyên nhân, theo giáo sư?
– Có thể nói cuộc chiến tranh diễn ra trên đất Việt Nam hết sức khốc liệt, ghê gớm. Bởi vì sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, thế giới trở thành cục diện đối đầu hai phe mà bằng chứng rõ nhất, nguy hiểm nhất là cuộc chạy đua vũ trang dẫn tới kho vũ khí hạt nhân của hai phe ấy cộng lại có thể làm nổ tung 6 lần trái đất mà chúng ta đang sống. Nó khủng khiếp như thế, nó cạnh tranh nhau dữ dội như thế. Nhưng bất hạnh là ở chỗ cái điểm nóng nhất của mâu thuẫn này lại rơi vào mảnh đất miền Nam Việt Nam.
Ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu được đưa đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Ảnh: Ngọc Đản.
Với cách nhìn nhận như vậy, chúng ta mới thấy hết sự khốc liệt của cuộc chiến tranh này. Nó hủy hoại không chỉ thể xác mà còn hủy hoại ghê gớm tinh thần của dân tộc Việt. Nó chia rẽ giữa những người Việt Nam với nhau, giữa bên “thắng cuộc” và bên “thua cuộc”. Phía nào cũng có cái lý của mình. Phía “bên này” thì cho rằng mình là chính nghĩa, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước. Phía “bên kia” cũng nói rằng mình là chính nghĩa.
Chúng ta phải nhìn nhận câu chuyện đó như một thực tế lịch sử. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là một trong những người nhìn ra vấn đề này khá sớm. Vì thế ông Kiệt mới nói: “Cứ đến 30/4 có hàng triệu người vui, cũng có hàng triệu người buồn”. Tôi cho rằng ông cũng không phải đưa ra quan điểm cá nhân đâu mà có lẽ ông ấy bắt gặp những ý thức về tầm quan trọng của khối đoàn kết toàn dân mà nó từ ngàn xưa vang vọng lại, rồi từ tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta không nói về câu chuyện thắng- thua nữa. Cứ loay hoay chuyện bên này thắng, bên kia thua sẽ không có lời giải. Đã đến lúc người Việt Nam phải vượt qua chuyện thắng- thua, vươn tới một cái cao hơn. Đất nước chúng ta đang rất cần một khối đoàn kết toàn dân để đối mặt với những thử thách mới, để giải quyết những bài toán mới trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đấy mới chính là cái mà chúng ta cần hướng tới.
Không phải là phía “bên này” hay “bên kia” không hiểu được ý nghĩa của khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng chiến tranh đã qua 40 năm rồi, thậm chí đã có thế hệ thứ 3 không liên quan gì tới chiến tranh, tới chuyện thắng- thua nữa rồi, nhưng sao câu chuyện thắng- thua cứ dai dẳng mãi như vậy?
– Như tôi đã nói, cuộc chiến tranh này khốc liệt quá. Sự tàn phá của nó trên cả phương diện vật chất, thể xác, lẫn tinh thần sâu sắc quá, lớn quá, nên vết hằn của nó cũng không phải dễ chữa, làm lành. Trong cuộc chiến tranh đó có những gia đình chết không còn ai, có những làng mạc bị thiêu trụi hết. Vì vậy, sự oán hận là khó tránh khỏi và cái oán hận ấy thường được dồn lên phía “bên kia” và có tâm lý là người thắng trận bao giờ cũng muốn trút tất cả những cái gọi là “nợ nần” về mất mát, đau khổ lên đầu những người được coi là thua trận. Ngược lại, phía thua trận cũng có những biện minh cho việc làm của họ. Ví dụ, họ cho rằng đấy là mỗi bên có một cách tiếp cận về vấn đề thống nhất đất nước, chống xâm lăng v.v.
Hòa giải: bắt đầu từ những người từng cầm súng
Vậy vấn đề cần được giải quyết như thế nào để tháo gỡ những day dứt này, thưa giáo sư?
– Tôi nghĩ rằng có ba vấn đề mà chúng ta phải xem xét. Thứ nhất, đừng đòi hỏi đâu xa mà đã đến lúc các cơ quan truyền thông, những người làm công tác tuyên truyền phải nhắc tới sự tự “giải phóng”, sự thanh thản ở chính mỗi con người chúng ta.Chúng ta có hàng triệu chiến sĩ đã ra mặt trận. Những người ấy, xét về mặt nào đó, họ có quyền để mà giữ lâu hơn cái mối thù này. Bởi trong số họ có người đã ngã xuống nơi chiến trường, có người đã mất một phần thân thể, có người cũng đã dành cả thời trai trẻ của mình nơi chiến trận mà lý ra họ phải có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Vì vậy, nếu họ có trút những “hận thù” ấy lên phía đối lập cũng là chính đáng, không ai chê trách gì được. Nhưng, như tôi đã nói, có lẽ đã đến lúc phải gác lại mọi hận thù. Hướng về tương lai để cùng nhau xây dựng đất nước, vì tương lai của chính chúng ta. Vì vậy, tôi cho rằng việc hòa giải phải bắt đầu, và quan trọng nhất là chính từ những người đã từng tham chiến.
Thưa giáo sư, đấy là ông nói theo triết lý của một nhà khoa học hay cả từ thực tế của chính bản thân ông?
– Tôi nói như thế không phải tôi là người ngoài cuộc, tôi đã từng là một quân nhân, đã từng tham chiến ở chiến trường.Tôi có một câu chuyện thật là đầu thập niên 90 (thế kỷ 20) do công việc tôi có gặp TS James Reckner, khi ấy là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Việt Nam của Đại học Texas, nơi lưu giữ cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Ông ấy nguyên là Đại úy hải quân Mỹ, trước đây thuộc một đơn vị của Hạm đội 7. Khi biết tôi là lính, ông ấy hỏi tôi đóng quân ở đâu, tôi nói địa chỉ. Ông ấy nói rằng đó là cái vùng mà đơn vị ông thường xuyên pháo kích. Tôi bảo rằng, may mà tôi thoát được chứ nếu không may, trúng quả pháo của ông ấy thì sẽ không có ngày gặp mặt này.
Lúc ấy tôi có hai cách giải quyết: Một là, tôi coi ông ấy là tử thù, bởi vì tôi sống sót là do may mắn thôi. Nhưng có cách xử lý thứ hai: chuyện ấy đã qua rồi, cuộc chiến tranh ấy do nhiều lý do mà tôi và ông ấy chỉ là những người lính trên chiến trường thôi, bây giờ chúng tôi phải nhìn nhau theo cách khác. Sau đó chúng tôi đã có những hợp tác rất tốt với nhau trong nghiên cứu về Việt Nam. Đấy, có cách nhìn khác nhau trước một cái thực thể như thế, một vấn đề, hoàn cảnh như thế.
Chính vì thế mới nói, điều quan trọng nhất là những người tham chiến phải có cái nhìn độ lượng với nhau hơn, cao thượng hơn và vì tương lai của cả dân tộc. Với ý nghĩa đó, những người từng đứng trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng hòa, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng phải có cách nhìn khác đi, cao hơn, như đã nói. Tôi cho rằng hóa giải và tiến tới hòa giải, hòa hợp nên bắt đầu bắt đầu từ chính những người từng cầm súng.
Trước tiên hãy làm tốt công việc của mình
Nhiều nhân sĩ, trí thức, những người từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa cho rằng, chúng ta nói nhiều đến hòa hợp, hòa giải, nhưng đôi khi còn hình thức theo kiểu “ban phát”. Nói là tạo mọi điều kiện cho Việt kiều tham gia xây dựng đất nước, nhưng họ đâu có cơ hội tham gia quản lý đất nước. Ví dụ, có thể để một số người tham gia Quốc hội, MTTQ chẳng hạn. Vì sao chúng ta vẫn còn hạn chế?
– Trước hết cần phải nói là, vì đại nghĩa, vì khối đại đoàn kết dân tộc, có lẽ chúng ta cần phải có cái nhìn khác khác đi về “chủ nghĩa lý lịch”, hay nói đúng hơn là sự “kỳ thị”. Đã đến thế hệ thứ 3 rồi mà cứ nhắc đến lý lịch là vô tình nhắc các em, các cháu nhớ lại quá khứ; làm cho họ cảm thấy bị phân biệt đối xử.
Những người có công thì phải nhớ, phải đền ơn, đáp nghĩa. Chúng ta không bao giờ được phép lơ là việc làm nghĩa tình ấy. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc, khi nhớ ơn là phải kỳ thị người khác. Mặc dù trong chính sách của Nhà nước hiện nay đã có nhiều thay đổi tiến bộ được thể hiện rõ nhất trong Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài, nhưng điều quan trọng là phải phải cụ thể hóa bằng những cái chính sách cụ thể.
Còn việc các nhân sĩ, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài mong muốn tham gia vào các công việc quản lý đất nước như trở thành Đại biểu Quốc hội, thậm chí tham gia vào bộ máy điều hành của Chính phủ ở những cấp độ khác nhau, vào MTTQ là điều hoàn toàn chính đáng. Hiện nay, về cơ bản, tôi nghĩ đã có cơ sở pháp lý cho việc ấy, tuy nhiên chúng ta phải thấy một điều là việc lựa chọn người vào các cơ quan quyền lực, chính trị nó phải có hai mặt: Mở cửa đón người tài, người tâm huyết ấy, nhưng đồng thời cũng phải có một cơ chế sàng lọc để không lọt vào bộ máy lãnh đạo những người cơ hội, thậm chí là có động cơ không trong sáng. Đấy chính là điều khó khăn, mà theo tôi, các nhà quản lý, lãnh đạo đang cân nhắc.
Vì vậy, tới đây có lẽ là phải có một cơ chế thế nào đó để có thể lọc tìm ra được những người thực sự có tâm, có tài để tham gia vào các cơ quan công quyền điều hành đất nước. Tôi nghĩ, trước mắt thì những người có tâm huyết hãy thể hiện mình bằng những công việc có thể chưa trực tiếp vào tham gia điều hành đất nước, nhưng qua quá trình đóng góp trực tiếp ấy thì dần dần cũng sẽ có cơ hội để trở thành những người giữ những vai trò trọng trách trong bộ máy công quyền.
Xin cám ơn giáo sư!
GS TSKH Vũ Minh Giang, Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN, Phó chủ tịch Hội đồng Di sản Quốc gia, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Lý luận TW, Ủy viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư Liên ngành Lịch sử- Khảo cổ, Dân tộc học.
Với những cống hiến hết sức quan trọng cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của đất nước, GS TSKH Vũ Minh Giang đã được Đảng, Nhà nước ta và nước ngoài tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương lao động hạng Ba (2005) và hạng Hai (2010), Huân chương Cành cọ hàn lâm của Chính phủ Cộng hòa Pháp (2007), Giải thưởng công trình khoa học công nghệ tiêu biểu (2009), 2 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2002 và 2010) và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Nguồn : Viettimes.vn
 http://doilinh.net/hoa-giai-dan-toc-da-den-luc-nguoi-viet-vuot-qua-chuyen-thang-thua.dl/amp

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

Phải chăng có âm mưu làm mất uy tín và cô lập Việt Nam trên trường quốc tế?

Phải chăng có âm mưu làm mất uy tín và cô lập Việt Nam trên trường quốc tế?

 Lãnh đạo hàng đầu Việt Nam nghĩ sao về những sự kiện nêu trong bài? Nguồn ảnh: Zing.
Một loạt sự kiện diễn ra từ tháng 4 – 5 – 6 – 7 làm Việt Nam “mất điểm” trong nhìn nhận của thế giới, khiến ta có thể nghĩ đến một âm mưu xuyên suốt. Đó là:
1. Vụ “khủng hoảng”tại xã Đồng Tâm, đã được ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch Hà Nội đến đối thoại, tháo gỡ ngòi nổ và ký, điểm chỉ vào Bản cam kết, nói rõ 03 điểm (tháng 4/2017). Dư luận quan tâm ở trong nước và quốc tế đều thở phào nhẹ nhõm, coi cách xử lý của chính quyền Hà Nội là hợp lý, hợp tình, mở ra hướng mới: Đối thoại để đi đến đồng thuận giữa chính quyền và người dân, góp phần ổn định tình hình chính trị, xã hội đang rất căng thẳng ở khắp các địa phương hiện nay. Nhưng tiếc thay, chính quyền Hà Nội, không biết vì sao đã lật ngược lại tất cả những điều ông Chung đã cam kết? Giờ đây liên tục gây căng thẳng với dân Đồng Tâm, có thể dẫn tới những bất ổn mới… Điều đó đi ngược lại với với mong đợi của những người còn thiện chí với Việt Nam…(1)
2. Vụ Chủ tịch Trần Đại Quang ký giấy, tước quốc tịch của nhà giáo Phạm Minh Hoàng và cưỡng bức trục xuất ông khỏi Việt Nam, gây sự rắc rối làm bẽ mặt người Pháp và chọc tức dư luận quốc tế (5/2017). Bí thư thứ nhất Tòa Đại sứ Pháp Fabienne Rynyo nói: “Các quyền tự do ngôn luận, nhất là trên Internet, được công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị bảo đảm, mà Việt Nam là một nước tham gia ký kết. Pháp kêu gọi chính quyền Việt Nam phải đảm bảo tuân thủ các cam kết này.” (2)
3. Vụ kết án bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) 10 năm tù giam (6/2017) sau khi bà mới được “Bộ Ngoại giao Mỹ và Đệ nhất Phu nhân Melania Trump tôn vinh blogger Mẹ Nấm là người phụ nữ dũng cảm”. Bản án này chẳng khác nào cái tát vào mặt người Mỹ. Tuyên bố của Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Heather Nauert về việc kết án Nguyễn Ngọc Như Quỳnh có câu: “Tôi quan ngại sâu sắc về các phiên tòa của Việt Nam và việc kết án người được trao Giải thưởng Phụ nữ Quốc tế Can đảm 2017 và blogger ôn hòa Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Cô còn được gọi là “Mẹ Nấm”. Cô đã bị kết án 10 năm tù với buộc tội mơ hồ tuyên truyền chống nhà nước.” (3). Đại sứ Mỹ tại Việt Nam cũng ra thông cáo đề nghị thả Như Quỳnh (Blogger Mẹ Nấm)…
4. Vụ bà Trần Thị Nga bị tuyên án 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (7/2017) gây dư luận bất bình ở trong nước và quốc tế.
“Về bản án dành cho nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam Trần Thị Nga, hôm qua ngày 27.7, Đặc ủy Nhân quyền của Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức, Bà Bärbel Kofler, đã tuyên bố như sau:
‘‘Tôi thấy bàng hoàng trước việc bà Trần Thị Nga bị một tòa án tại Việt Nam tuyên phạt mức án rất nặng là 9 năm tù giam. Bà Nga đã sử dụng các biện pháp ôn hòa để đấu tranh chống tham nhũng và sự tùy tiện cũng như tranh đấu cho dân oan, quyền của người lao động và bảo vệ môi trường. Sự cống hiến của bà đã được tổ chức Ân xá Quốc tế tuyên dương nhân ngày Quốc tế Phụ nữ năm nay”… (4)
5. Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin gây căng thẳng với người Đức và thách thức luật pháp quốc tế, làm tổn hại nghiệm trọng đến hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế (7/2017)… Sau mười ngày điều tra và cân nhắc thận trọng, ngày 2/8/2017 Bộ Ngoại giao CHLB Đức đã ra thông cáo báo chí, trong đó khẳng định:
“Việc bắt cóc công dân Việt Nam Trịnh Xuân Thanh trên lãnh thổ Đức là sự vi phạm trắng trợn chưa từng có đối với luật pháp Đức và luật pháp quốc tế.”
“Chính phủ Liên bang Đức đòi hỏi, rằng ông Trịnh Xuân Thanh có thể quay lại Đức ngay lập tức, để cả đề nghị dẫn độ và đơn xin tỵ nạn đều có thể được xem xét đến cùng đúng theo trình tự pháp lý.” Bộ trưởng Ngoại giao Đức Sigmar Gabriel đã phải nhấn mạnh (trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Stuttgarter Nachrichten ngày 6/8/2017):
“Hành vi của mật vụ Việt Nam trên lãnh thổ Đức là hoàn toàn không chấp nhận được. Tôi muốn nói hết sức rõ ràng rằng: Chúng tôi không bao giờ chấp nhận trò ấy, và cũng sẽ chẳng để yên việc ấy.” (5)
Xâu chuỗi 5 sự kiện trên, diễn ra liên tiếp trong 4-5 tháng, đều gây cho dư luận quốc tế những đánh giá bất lợi về Việt Nam, nhất là gây chuyện với mấy nước Pháp, Mỹ, Đức là những nước lớn, có nhiều ảnh hưởng đến chính trị, ngoại giao, kinh tế … của nước ta trên trường quốc tế.
Việt Nam mất uy tín và bị cô lập trên thế giới trong khi Trung cộng đang ra sức xâm lấn, o ép Việt Nam, thì điều đó có lợi cho ai?

 FB Mạc Văn Trang
Chú thích:
1. Khởi tố hình sự vụ Đồng Tâm: Bảo vệ lợi ích nhóm hay giữ lòng tin với dân?
2. Quốc tế tiếp tục lên tiếng việc trục xuất ông Phạm Minh Hoàng
3. Tuyên bố của Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Heather Nauert về việc kết án Nguyễn Ngọc Như Quỳnh
4. Đại sứ quán Đức ở Hà Nội
5. Một số điều cần trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh


 

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2017

WIKILEAKS CÔNG BỐ DANH SÁCH CƠ SỞ CỦA PHÂN CỤC TÌNH BÁO HOA NAM TẠI VIỆT NAM

WIKILEAKS CÔNG BỐ DANH SÁCH CƠ SỞ CỦA PHÂN CỤC TÌNH BÁO HOA NAM TẠI VIỆT NAM
Các tài liệu vừa giải mật gần đây của Wikileaks phần nào giúp các quốc gia nhận thấy hoạt động tình báo của các nước ngay tại đất nước mình. Tài liệu của Wikileaks đã tổng hợp điện tín từ các Đại sứ quán Mỹ khắp thế giới, chủ yếu phân tích về hoạt động tình báo của các quốc gia có vẻ thù địch hoặc cạnh tranh với Mỹ tại các quốc gia thứ ba. Trong đó chủ yếu là hoạt động của Phân cục Tình báo Hoa Nam của Trung Quốc và Tổng cục An ninh Liên bang của Liên bang Nga-FSB. Các bức điện tín rò rỉ từ Đại sứ quán Mỹ tại các quốc gia mà Mỹ và Nga-Trung Quốc đang có sự cạnh tranh, chủ yếu là các quốc gia Đông Âu, Đông Nam Á, Nam Á và Hàn Quốc, Nhật Bản.
Các bức điện tín được giải mật trong hàng loạt tài liệu của Wikileaks chủ yếu nằm trong giai đoạn các năm 2008-2012. Sau đây chúng tôi chỉ tập trung nói đến các tài liệu mật có liên quan đến Việt Nam.
Trong những tài liệu giải mật các bức điện tín từ Wikileaks về Việt Nam được gửi từ Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, hầu hết được ký tên bởi Đại sứ Michael Michalak hoặc Phó đại sứ, bà Virginia Palmer. Ông Đại sứ Michael Michalak nhận định chung về hoạt động tình báo tại Việt Nam như sau: "Mặc dù là một quốc gia nhỏ nhưng có vị trí chiến lược bên cạnh Trung Quốc, và lập trường ngoại giao đu dây của giới lãnh đạo chớp bu cộng sản, nên các hoạt động tình báo tại Việt Nam diễn ra rất sôi nổi và phức tạp. Đặc biệt là của Phân cục Tình báo Hoa Nam Trung Quốc và Tổng cục An ninh Liên bang của Liên bang Nga-FSB."
Vị Đại sứ này cũng nhận định, trái với FSB chỉ chủ yếu giám sát tình hình chính trị tại Việt Nam mà không có hoạt động tác động lớn nào, thì dường như Phân cục Tình báo Hoa Nam lại hoạt động rất mạnh. Ngoài việc thu thập các tin tức tình báo về tình hình kinh tế, chính trị và quân sự tại Việt Nam, tình báo Hoa Nam còn có động thái xây dựng cơ sở người Việt nhằm làm công tác tuyên truyền cho chủ nghĩa Đại bành trướng Trung Hoa, tranh thủ tình cảm của người Việt đối với Trung Quốc cũng như tấn công chính trị các lãnh đạo chóp bu cộng sản có thái độ thân Mỹ, nhằm làm đối trọng với chính sách ngoại giao của Mỹ tại Việt Nam.
Trong một bức điện tín khác, do bà Virginia Palmer ký tên có nói về việc Đại sứ quán Mỹ đã chủ động liên hệ đến các nhà hoạt động nhân quyền tại Việt Nam như các ông Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định và bà Nguyễn Thị Công Nhân nhằm tạo cảm tình cũng như tranh thủ sự ủng hộ của Đại sứ quán đối với hoạt động vì nhân quyền của các vị này tại Việt Nam.
Ngoài ra, có một số nhà hoạt động tự do tuy đã lọt vào tầm ngắm nhưng phía Mỹ vẫn không thể bắt được liên lạc. Theo đánh giá của vị Phó Đại sứ cho biết nhiều khả năng, phân cục Tình báo Hoa Nam đã có liên hệ trực tiếp đến các ông bà này nhằm xây dựng cơ sở tuyên truyền cho Trung Quốc.
Vị Phó Đại sứ cũng nhận định, các hoạt động tình báo của Trung Quốc hiện tại đã rất khác so với nhiều năm về trước. Nếu như trước đây Phân cục Tình báo Hoa Nam chỉ tập trung thu thập các tin tức tình báo về Kinh tế, Công nghệ và Chính trị. Thì nay, hoạt động của họ còn bao gồm cả việc xây dựng cơ sở để tuyên truyền và tấn công truyền thông các lãnh đạo chóp bu có thái độ xa lánh Trung Quốc.
Trong phần cuối, điện tín cũng cho thấy đánh giá của họ về các cơ sở của phân cục Tình báo Hoa Nam như sau: "Các cơ sở người Việt này chủ yếu được xây dựng từ các nhà báo có uy tín trong nước trong đó có các cựu TBT báo Thanh niên Nguyễn Công Khế, cựu TBT báo Tuổi trẻ Tăng Hữu Phong, cựu nhà báo Trương Huy San, cựu nhà báo Nguyễn Quang Lập,... Các cơ sở này được cung cấp hàng loạt các thông tin mật nhằm tranh thủ uy tín. Đặc biệt họ không tập trung tuyên truyền về các vấn đề nhân quyền mà chỉ thuần về các yếu tố dân túy, điều này tạo sự khác biệt cho họ đối với phần lớn các nhà hoạt động khác, và phần nào tạo ra sự lúng túng cho chính quyền Việt Nam trong việc xử lý."
Các bức điện tín vừa được giải mật phần nào đã cho chúng ta thấy cái nhìn phần nào về hoạt động tình báo của Trung Quốc tại Việt Nam. Ngoài mặt là hai quốc gia láng giềng thân thiết nhưng phía Trung Quốc luôn dùng đủ mọi cách để hòng bành trướng, nuốt chửng Việt Nam. Nhìn nhận về các vấn đề đang nóng bỏng thời gian gần đây, có thể thấy nhận định của sứ bộ ngoại giao Mỹ là đáng tin cậy.
Có thể thấy, thông tin mà các ông bà này thường xuyên cung cấp trên mạng xã hội là thông tin thuộc loại Mật và rất chính xác. Ngoài ra, ông Trương Huy San cũng thường xuyên tung ra các tài liệu mật nhằm tấn công triệt hạ phe có thái độ bài xích Trung Quốc, thân Mỹ trong giới chóp bu cộng sản Việt Nam. Khoảng 2 năm trước đây, blogger Trương Huy San đã liên tục tấn công cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cựu Bí thư TPHCM Đinh La Thăng và gần đây nhất là các bài viết có chiều hướng tấn công đương kim Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Đây là các lãnh đạo cộng sản được xem là có lập trường thân Mỹ và xa lánh Trung Quốc.
Lee Nguyen/Báo Người Việt

Trung Quốc 5 lần bán đứng Việt Nam

Trung Quốc 5 lần bán đứng Việt Nam

Chỉ là nhân vụ bắt cóc đầu thú, có thuyết âm mưu cho rằng có bàn tay Hoa Nam nhúng vào nhằm “chia uyên rẽ thuý”. Chợt nhớ chuyện xưa mà không xưa.
Lần thứ nhất, tại Hội nghị Genève năm 1954. Trung Quốc đã có sự mặc cả với Mỹ, Pháp chứ đúng ra ranh giới hai miền không phải vĩ tuyến 17 mà có thể là 13, nếu không thì là 15. Nhưng để lấy lòng Mỹ và phương Tây, Trung Quốc đã nhân nhượng Mỹ và Pháp kéo lên vĩ tuyến 17. Sau này chính Pháp nói với ta điều ấy.
Lần thứ hai, khi Việt Nam gần thắng Mỹ năm 1972, Henry Kissinger đã ký tắt với ông Lê Đức Thọ, hai bên báo cáo cấp cao để chuẩn bị ký Hiệp định Paris. Nhưng sau đó Mao Trạch Đông mời Tổng thống Mỹ Nixon sang ký Thông cáo chung Thượng Hải. Ngày 1-3-1972, Kissinger về Tokyo họp báo, nói một câu nổi tiếng: Bây giờ chúng tôi chỉ còn nhìn về Mạc Tư Khoa để nghiền nát Hà Nội! Sau khi ký xong, những việc tày trời trước đây các tổng thống Mỹ khác không làm được thì Nixon làm được, đó là phong tỏa cảng Hải Phòng, con đường biển duy nhất Việt Nam ra thế giới, cho máy bay đánh sát biên giới Trung Quốc, rồi sau đó là 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Thiệt hại về người và tài sản trong cuộc không chiến của Mỹ ở miền Bắc từ 1-3-1972 đến khi ký Hiệp định Paris bằng cả sáu năm trước cộng lại. Ở miền Nam, ta cũng phải đổ xương máu nữa. Nên thông cáo Thượng Hải thực chất đã được viết bằng máu của người Việt Nam.
Lần thứ ba, họ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Không có sự đồng ý của Mỹ thì Trung Quốc không bao giờ dám đánh.
Lần thứ tư, chính Trung Quốc là kẻ chủ mưu gây nên vụ thảm sát hơn 2 triệu người Campuchia. Trung Quốc cung cấp từ A đến Z, lương thực thực phẩm, vũ khí, đạn dược, thuốc men cho Khmer Đỏ. Chiến tranh biên giới Tây Nam 1976-1978 là Trung Quốc mượn Khmer Đỏ để đánh Việt Nam. Sau đấy, khi ta giải phóng Campuchia, Trung Quốc là kẻ lu loa trên thế giới rằng Việt Nam có âm mưu lập “Liên bang Đông Dương”. Kẻ gây ra họa diệt chủng lại vu cáo cho những người cứu người Campuchia khỏi họa diệt chủng.
Lần thứ năm, là chiến tranh biên giới năm 1979.
Năm lần họ buôn bán trên lưng mình!

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Tài liệu tối mật về tranh chấp biên giới, biển đảo cũng bị lộ

Tài liệu tối mật về tranh chấp biên giới, biển đảo cũng bị lộ

 Đã có 840 vụ lộ, mất bí mật nhà nước được phát hiện từ năm 2001 đến nay. Báo cáo UB Thường vụ Quốc hội, Chính phủ cho biết, có nhiều tài liệu trong số đó thuộc danh mục tuyệt mật, tối mật liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước; chủ trương giải quyết các tranh chấp về biên giới, biển đảo…

Đây là nội dung thể hiện trong Tờ trình dự thảo luật Bảo vệ bí mật Nhà nước được Chính phủ trình xin ý kiến UB Thường vụ Quốc hội chiều 10/8.
Đánh giá khái quát của cơ quan hành chính nhà nước về sự cần thiết xây dựng luật này là vì Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự trong giai đoạn hiện nay.
Một trong các hạn chế là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước chưa cụ thể dẫn đến nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và nhân dân còn chủ quan, mất cảnh giác, làm giảm chất lượng, hiệu quả của công tác này.
Tờ trình của Chính phủ nêu rõ, từ năm 2001 đến nay, các cơ quan đã phát hiện hơn 840 vụ lộ, mất bí mật nhà nước. Trong đó, nhiều tài liệu thuộc danh mục tuyệt mật, tối mật liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước; chủ trương giải quyết các tranh chấp về biên giới, biển đảo.
Trong số những vụ bị mất, lộ bí mật nhà nước có những tài liệu quan trọng liên quan việc giải quyết tranh chấp biên giới, biển đảo.
Trong số những vụ bị mất, lộ bí mật nhà nước có những tài liệu quan trọng liên quan việc giải quyết tranh chấp biên giới, biển đảo.
Hình thức lộ, mất bí mật nhà nước chủ yếu là qua thông tin, liên lạc; báo chí, xuất bản, quan hệ quốc tế...
Một trong những nguyên nhân của việc lộ, mất nêu trên là do hệ thống pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước còn chưa đồng bộ; các chế tài xử lý còn thiếu và yếu chưa bảo đảm tính răn đe; việc xử lý vi phạm còn nể nang, thiếu chủ động...
Chính phủ cũng nhận định, trong bối cảnh quốc tế ngày càng trở nên phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch, bọn tội phạm trong và ngoài nước không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện các mục tiêu này thì hoạt động tình báo, gián điệp để lấy cắp, chiếm đoạt bí mật nhà nước được đặc biệt chú ý.
Trước tình hình phức tạp nêu trên, từ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và định hướng của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ bí mật nhà nước trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, đồng thời để hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ bí mật nhà nước nên việc xây dựng dự án Luật Bảo vệ bí mật nhà nước là yêu cầu khách quan và cần thiết - tờ trình nêu rõ.
Dự thảo luật được xây dựng và bố cục thành 5 chương, 41 điều. Cơ quan soạn thảo cho biết, khái niệm bí mật nhà nước được xác định rõ hơn về hình thức, nội dung và tiêu chí, là cơ sở phân biệt giữa bí mật nhà nước với các loại bí mật khác (bí mật đời tư, bí mật công tác, bí mật nội bộ), tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Theo đó, bí mật nhà nước là “thông tin, vật, khu vực cấm, địa điểm cấm có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, các lĩnh vực khác, được quy định bằng danh mục bí mật nhà nước, nếu bị lộ, mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc”.
Điểm mới nữa là dự thảo luật quy định phạm vi bí mật nhà nước theo hướng khái quát hóa (không chia phạm vi bí mật nhà nước theo từng cấp độ mật). Căn cứ phạm vi bí mật nhà nước và tiêu chí xác định độ mật quy định tại dự thảo, cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương xác định và lập danh mục bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức mình trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Về thẩm quyền, dự thảo luật sửa đổi thẩm quyền quyết định danh mục bí mật nhà nước theo hướng Thủ tướng quyết định danh mục bí mật nhà nước của từng cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương.
Chính phủ giải thích, việc sửa đổi nêu trên là do khái niệm bí mật nhà nước, phạm vi bí mật nhà nước, tiêu chí xác định cấp độ mật của bí mật nhà nước mớichỉ mang tính chất khung. Do đó, danh mục bí mật nhà nước cần được xem xét, cân nhắc thận trọng, toàn diện với sự tham gia của các cơ quan có liên quan và quyết định bởi chủ thể có thẩm quyền để làm cơ sở áp dụng chung và thống nhất.
Quy định về hoạt động bảo vệ nhà nước cũng có những nội dung mới. Cụ thể, dự thảo đã luật hóa quy định mang bí mật nhà nước đi công tác trong nước, đi công tác nước ngoài, về nhà riêng.
Để bảo đảm tính khả thi, đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính tại cửa khẩu, đồng thời khắc phục nhược điểm Pháp lệnh năm 2000, dự thảo không quy địnhtrách nhiệm của cán bộ đi công tác nước ngoài có mang bí mật nhà nước phải xuất trình văn bản xin phép có sự đồng ý của lãnh đạo cơ quan, tổ chức với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại cửa khẩu.
http://dantri.com.vn
P.Thảo